phần Mở đầu và Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 Chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của thực thi chính sách phát triển công nghiệp nông thôn Chƣơng 2: Thực trạng thực thi chính sách phát triển công nghiệp nông thôn trên địa bàn thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng Chƣơng 3: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp tăng cƣờng thực thi chính sách phát triển công nghiệp nông thôn trên địa bàn thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm cơ bản về phát triển công nghiệp nông thôn 1. Khái niệm nông thôn Nông thôn là khu vực bao gồm một không gian rộng lớn, ở đó một cộng đồng dân cƣ sinh sống và hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Ở Việt Nam, nông nghiệp - nông thôn gắn liền với nhau và gần nhƣ toàn bộ dân cƣ ở nông thôn đều tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp, do đó đôi khi ngƣời ta còn đồng nhất giữa nông nghiệp và nông thôn.
Khái niệm nông thôn luôn gắn liền với thuật ngữ làng, xã, vì vậy, mô hình kinh tế nông thôn là mô hình khép kín, mang nặng tính tự cung tự cấp: lấy nghề nông làm cơ bản, lấy kỹ thuật thâm canh lúa nƣớc kết hợp với tiểu thủ công nghiệp nhỏ làm công nghệ chính, lấy đất đai tự nhiên và sức lao động thủ công cùng với các công cụ thô sơ làm lực lƣợng sản xuất chính, lấy mô hình gia đình nhỏ làm đơn vị tổ chức sản xuất hàng đầu, lấy lệ làng, hƣơng ƣớc làm thiết chế xã hội. Khái niệm công nghiệp Theo từ điển Bách khoa toàn thƣ, công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hoá vật chất mà sản phẩm “chế tạo, chế biến” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc hoạt động phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo. Theo từ điển tiếng Việt, công nghiệp là toàn thể những hoạt động kinh tế nhằm khai thác các tài nguyên và các nguồn năng lƣợng, chuyển biến cả nguyên liệu gốc động vật, thực vật hay khoáng vật thành sản phẩm. Từ khái niệm trên cho thấy, công nghiệp bao gồm những hoạt động sản xuất, bắt đầu từ hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên, tách đối tƣợng lao động ra khỏi thiên nhiên và hoạt động chế biến các tài nguyên có đƣợc từ khai thác, 10 làm thay đổi hoàn toàn về chất các nguyên liệu ban đầu, biến chúng thành những sản phẩm tƣơng ứng hoặc nguồn nguyên liệu tiếp theo để sản xuất ra các sản phẩm khác phục vụ nhu cầu đa dạng của con ngƣời.
Tuy nhiên, khái niệm trên chƣa đề cập đến ngành công nghiệp sửa chữa khôi phục giá trị của sản phẩm đƣợc tiêu dùng trong quá trình sản xuất và trong sinh hoạt. Đây là hoạt động không thể thiếu khi đề cập đến công nghiệp, nó xuất hiện sau công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến. Công nghiệp sản xuất đƣợc sử dụng trong công nghiệp chủ yếu là quá trình tác động trực tiếp bằng phƣơng pháp cơ lý hoá để biến đổi các nguyên liệu ban đầu thành các sản phẩm trung gian cho đến các sản phẩm cuối cùng khác nhau về chất so với đặc tính ban đầu của chúng. Những ngành công nghiệp này ngày càng phong phú đa dạng dƣới sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ.
Sản phẩm công nghiệp do con ngƣời sáng tạo ra có khả năng đáp ứng nhiều loại nhu cầu sản xuất và đời sống. Gắn với sự phát triển của lực lƣợng sản xuất, đặc biệt là sự phát triển của quá trình chuyên môn hoá sản xuất và sự phát triển khoa học công nghệ, các sản phẩm công nghiệp ngày càng trở nên phong phú cả trong việc thoả thuận nhu cầu đa dạng, muôn màu muôn vẻ của sản xuất đời sống cũng nhƣ trong nguyên liệu sử dụng, trong cấu trúc của sản phẩm và phƣơng pháp cụ thể để sản xuất chúng. Khái niệm công nghiệp nông thôn Khái niệm công nghiệp nông thôn (CNNT) chỉ mới xuất hiện vào những năm 70 của thế kỷ XX, đƣợc chính thức đề cập lần đầu tại một hội thảo do UNIDO tổ chức tại Paris. CNNT đƣợc định nghĩa khác nhau tuỳ thuộc các cách tiếp cận, nghiên cứu nó, tuỳ thuộc điều kiện phát triển và những chính sách, chiến lƣợc phát triển nó.
Trên thực tế, có nhiều khái niệm CNNT đƣợc hiểu khác nhau. 11 Với cách tiếp cận dƣới góc độ kinh tế lãnh thổ thì “CNNT đƣợc xem nhƣ một bộ phận của kinh tế lãnh thổ, CNNT là công nghiệp đƣợc phân bố ở nông thôn”. Với cách tiếp cận dƣới góc độ kinh tế xã hội, thì “CNNT đƣợc xem là toàn bộ những hoạt động sản xuất có tính chất công nghiệp ở nông thôn, là biện pháp góp phần phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn và giải quyết những nhiệm vụ kinh tế - xã hội ở nông thôn nói chung và mỗi vùng nông thôn cụ thể nói riêng”. Một trong những hƣớng nhằm thoát khỏi vòng luẩn quẩn đó là đẩy mạnh phát triển lực lƣợng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân công lại lao động ở nông thôn mà các hoạt động mang tính chất công nghiệp có vai trò đáng kể.
Một trong những giải pháp cơ bản có ý nghĩa quan trọng là chọn giải pháp phát triển công nghiệp nông thôn để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Tuy nhiên, nếu lấy việc phát triển kinh tế nông thôn để phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn thì lại là khiếm khuyết lớn vì chính sự phát triển bản thân công nghiệp nông thôn sẽ không chỉ tác động đến nông thôn mà sự phát triển đó tất yếu tác động đến thành thị, tác động đến ngành công nghiệp cũng nhƣ toàn bộ nền kinh tế quốc dân, do đó, cách tiếp cận này chƣa thể hiện tính hệ thống trong chiến lƣợc phát triển công nghiệp nông thôn nói riêng và tổng thể nền kinh tế nói chung. Với cách tiếp cận dƣới góc độ kinh tế tổ chức, “các hoạt động kinh tế của các hộ gia đình có quy mô vừa và nhỏ của các hoạt động phi nông nghiệp đƣợc gọi là CNNT”. Cách tiếp cận này xuất phát từ bối cảnh nông thôn của các nƣớc đang phát triển có dân số đông, đất đai bị thu hẹp, việc làm trong nông nghiệp giảm sút nên buộc một bộ phận cƣ dân nông thôn phải chuyển sang lao động trong các ngành phi nông nghiệp nhằm giải quyết việc làm ở 12 nông thôn theo quy mô gia đình.
Đây là một hƣớng đi phổ biến ở nông thôn nhƣng lại không nói rõ nội hàm của công nghiệp nông thôn dễ gây nhầm lẫn rằng các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn là công nghiệp nông thôn, tức là công nghiệp nông thôn bao hàm cả dịch vụ. Với cách tiếp cận dƣới góc độ cộng đồng, làng xóm, “các cơ sở CNNT chủ yếu đƣợc thành lập từ các gia đình, dòng tộc, thôn xóm”. Nó đã góp phần tích cực trong việc bảo tồn các kỹ nghệ, bí quyết truyền thống cũng nhƣ bản sắc văn hóa của địa phƣơng. Tuy nhiên, quy mô công nghiệp nông thôn chỉ dừng ở mức độ rất nhỏ, quy mô sản xuất chỉ ở mức hộ gia đình, thôn xóm không phù hợp trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Ở Việt Nam, tùy theo mục đích nghiên cứu mà các tác giả có quan niệm khác nhau về công nghiệp nông thôn, cụ thể: Có tác giả cho rằng “CNNT chỉ là tiểu thủ công nghiệp đƣợc phân bố ở nông thôn”. Cơ sở của quan niệm này xuất phát từ bối cảnh dân số nông thôn tăng nhanh, cơ hội kiếm việc làm trong nông nghiệp giảm, cho nên CNNT và tiểu thủ công nghiệp hộ gia đình đã phát triển nhƣ tiềm năng giải quyết việc làm ở nông thôn. Theo quan niệm này, họ xem sản xuất kinh doanh (SXKD) trong khuôn khổ gia đình có quy mô vừa và nhỏ với các hoạt động đƣợc gọi là CNNT, bao gồm các cơ sở sản xuất công nghiệp với quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu cùng với tiểu thủ công nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế, có nhiều hình thức tổ chức và trình độ phát triển khác nhau, ở đó kết cấu hạ tầng còn yếu kém và thiếu đồng bộ so với đô thị nên CNNT chỉ có thể phát triển phổ biến với quy mô vừa và nhỏ là phù hợp. CNNT bao gồm toàn bộ công nghiệp ở nông thôn, không cần phân biệt các đơn vị công nghiệp đã có gắn gì đến kinh tế nông thôn hay không.
Theo quan niệm này, CNNT đƣợc xem nhƣ một bộ phận của kinh tế lãnh thổ, đƣợc phân bổ ở nông thôn, gắn bó trực tiếp và chặt chẽ với SXKD ở địa phƣơng. 13 Cách tiếp cận này thƣờng đƣợc các địa phƣơng và các bộ quản lý kinh tế theo lãnh thổ sử dụng. Tuy nhiên, hiện nay quá trình đô thị hoá nông thôn đang diễn ra trong phạm vi rất rộng và tốc độ khá nhanh. Nhiều trƣờng hợp các doanh nghiệp lúc phát đạt thì không đƣợc coi là CNNT nhƣng sau một thời kinh doanh thua lỗ thì lại đƣợc coi là CNNT, hoặc có xí nghiệp công nghiệp phân bố ở nông thôn nhƣng không có gì gắn với kinh tế nông thôn, với doanh thu rất lớn sẽ làm cho tỷ trọng công nghiệp tăng lên dẫn đến sự ngộ nhận là cơ cấu kinh tế nông thôn đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ đúng hƣớng, trong khi thực tế thì ngƣợc lại dẫn đến việc đánh giá không chính xác sự phát triển kinh tế xã hội nông thôn hoặc có những chính sách phát triển nông thôn không phù hợp.
Tác giả luận văn cho rằng: Công nghiệp nông thôn là một bộ phận của ngành công nghiệp được gắn với phát triển kinh tế ở các vùng nông thôn và phù hợp với đặc điểm của các địa phương. Vai trò của phát triển công nghiệp nông thôn Những năm gần đây, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, vai trò của CNNT không những không giảm sút, mà có những nét mới, cao hơn so với vai trò trƣớc đây. Vai trò mới này xuất hiện từ chính xã hội công nghiệp và thành thị hiện đại. Bên cạnh những vai trò có tính truyền thống trƣớc đây, công nghiệp nông thôn còn có vai trò trong việc thỏa mãn những nhu cầu mới xuất hiện từ chính xã hội công nghiệp và nền văn minh công nghiệp, từ yêu cầu phát triển bền vững và lấy con ngƣời là mục tiêu của sự phát triển.