Chương 1 Những vấn đề chung về tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong Doanh Nghiệp 1. ý nghĩa của việc quản trị các yếu tố đầu vào đối với doanh nghiệp 1. Các quan điểm về yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Vận dụng quan điểm toàn diện vào khoa học và cuộc sống, người ta đã hình thành lý thuyết hệ thống. Lý thuyết hệ thống là quá trình sử dụng tổng hợp các lĩnh vực khoa học như: toán học, tin học, lôgic học, kinh tế.
nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra theo quan điểm toàn diện. Lý thuyết hệ thống được ứng dụng rộng rãi trong công tác quản lý, từ quản lý vĩ mô cho tới quản lý vi mô. Những bộ phận chủ yếu của một hệ thống bao gồm: các phần tử của hệ thống, môi trường của hệ thống, đầu vào của hệ thống, đầu ra của hệ thống. DN khi được nhìn nhận theo quan điểm là một hệ thống cũng bao gồm các bộ phận đã nêu trên.
Đối với bộ phận "đầu vào" của DN, có nhiều quan niệm, nhiều cách phát biểu khác nhau. Theo các tác giả của Trường Đại học kinh tế quốc dân: Doanh nghiệp cần được nhìn nhận như một hệ thống xã hội, một hệ thống kinh doanh. Điều đó có nghĩa là mọi khái niệm, mọi nguyên lý, mọi phương pháp trong lý thuyết hệ thống đều có thể được vận dụng trong nghiên cứu và giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp. Đầu vào của doanh nghiệp là các phương tiện cần thiết để cho doanh nghiệp hoạt động, bao gồm: - Nguồn nhân lực (lao động và thị trường chất xám) cung ứng các loại nhân lực cho doanh nghiệp.
- Nguồn vốn đảm bảo cung cấp tài chính cho doanh nghiệp. - Thị trường tư liệu sản xuất và dịch vụ để phục vụ cho các hoạt động tạo ra đầu ra (sản phẩm và dịch vụ mới cho doanh nghiệp). - Thị trường năng lượng và nguyên liệu tạo ra động lực và cung cấp nguyên liệu cho sản xuất. - Thị trường công nghệ và kỹ thuật để tạo ra các công nghệ và kỹ thuật mới thích hợp.
- Thị trường chất xám, thông tin (dịch vụ, tư vấn) [20, tr. Như vậy, theo quan điểm này, các yếu tố đầu vào của DN bao gồm: sức lao động, tư liệu SX, vốn. và các yếu tố đầu vào này đều có thể mua bán được trên thị trường, tức là có thể lượng hóa được bằng thước đo tiền tệ. Tuy nhiên, các tác giả trình bày nội dung còn có sự trùng lặp giữa “thị trường tư liệu sản xuất” với “thị trường năng lượng và nguyên liệu”; giữa “nguồn nhân lực (lao động và thị trường chất xám)” với thị “trường chất xám” làm cho người đọc khó phân biệt, dễ nhầm lẫn.
Theo tác giả Nguyễn Hải Sản: Khi xem xét doanh nghiệp dưới quan điểm hệ thống người ta cho rằng doanh nghiệp là một tổng thể bao gồm các yếu tố đầu vào, quá trình chế biến, chế tạo, và các yếu tố đầu ra. Tổng thể này chịu sự điều chỉnh của các thông tin phản hồi và tất cả đều nằm trong một môi trường kinh doanh cụ thể. Các yếu tố đầu vào bao gồm: tài sản cố định, nguyên liệu, nguồn nhân lực, tài chính và nguồn thông tin được đưa vào sản xuất chế biến [17, tr. Quan điểm này tương tự như quan điểm của trường Đại học Kinh tế quốc dân, chỉ khác về ngôn từ diễn đạt.
Trong quan điểm này, tác giả coi thông tin là một nguồn lực của DN. Đó là một cách hiểu đúng đắn vì trên thực tế các nhà quản trị phải có được thông tin thì mới đề ra được các quyết định quản lý phù hợp và thông tin ngày càng có vai trò quan trọng trong công tác quản lý nói chung, công việc quản trị DN nói riêng. Theo quan điểm của trường Đại học Tài chính Kế toán Hà Nội (nay là Học viện Tài chính): Đối với doanh nghiệp, đầu vào là: 1. Tổ chức lao động.
Công nghệ, trang thiết bị, nguyên nhiên vật liệu. Trình độ, phẩm chất, tiềm năng của nhà quản lý. Thị trường, thông tin và các ràng buộc vĩ mô trong kinh doanh 6. Các cơ hội và rủi ro [21, tr.
Theo quan điểm này, nhìn nhận các yếu tố đầu vào của DN trong môi trường KD cụ thể, gắn liền với các điều kiện KD, có tính đến các yếu tố chưa thể lượng hóa đo lường bằng các thước đo như: trình độ, phẩm chất, tiềm năng của nhà quản lý. Theo các nhà kinh tế nước Cộng hòa Pháp, các yếu tố đầu vào và đầu ra của DN được thể hiện qua sơ đồ 1. Theo quan điểm này các yếu tố đầu vào của DN gồm lao động, tài sản cố định (TSCĐ), nguyên liệu vật liệu (NLVL), hàng hóa, dịch vụ, tiền vốn và các yếu tố này đều được lượng hóa bằng thước đo tiền tệ. Qua việc phân tích các quan điểm trên chúng tôi nhận thấy thuật ngữ các yếu tố đầu vào của DN có nghĩa rất rộng dùng để chỉ tất cả các yếu tố, các nguồn lực mà DN đã sử dụng trong quá trình hoạt động để tạo ra các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đầu ra của DN.
Đứng trên giác độ của kế toán khi thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về các yếu tố đầu vào của DN chỉ có thể xem xét tới các yếu tố đầu vào có thể lượng hóa được vì đặc trưng của thông tin kế toán là thông tin phải được lượng hóa bằng các thước đo (thước đo hiện vật, thước đo lao động, thước đo giá trị, trong đó thước đo giá trị là chủ yếu). Với nội dung và phạm vi của các yếu tố đầu vào rộng như vậy nên luận văn chỉ tập trung xem xét tới các yếu tố đầu vào là NLVL, sức lao động và TSCĐ của DNNN trong lĩnh vực SX. ý nghĩa của việc quản trị các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Quản lý là hoạt động tất yếu khách quan là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã định trước. Quản lý được tiến hành trong mọi lĩnh vực của xã hội, cả ở tầm vĩ mô (toàn xã hội) và cả ở tầm vi mô (trong từng đơn vị).
Khi sử dụng thuật ngữ quản lý người ta thường gắn liền với đối tượng bị quản lý như quản lý kinh tế, quản lý hành chính, quản lý nhân sự. Thuật ngữ quản trị (trong tiếng Anh là management) vừa có nghĩa là quản lý, vừa có nghĩa là quản trị nhưng được dùng chủ yếu với nghĩa quản trị. Ngoài ra, tiếng Anh còn có một thuật ngữ nữa là administration với nghĩa là quản lý hành chính, quản lý chính quyền. Tiếng Pháp cũng có hai từ: gestion là quản trị kinh doanh và administration là quản lý hành chính.
Như vậy có thể hiểu quản lý là thuật ngữ được dùng đối với các cơ quan nhà nước trong việc quản lý xã hội nói chung và quản lý kinh tế nói riêng, còn quản trị là thuật ngữ được dùng để chỉ các hoạt động quản lý ở cấp cơ sở. Đối với các DN người ta sử dụng thuật ngữ quản trị kinh doanh. Quản lý và quản trị có điểm chung là lôgíc giống nhau của vấn đề quản lý, nhưng điểm khác nhau là nội dung và quy mô cụ thể của vấn đề quản lý đặt ra: một bên là phạm vi toàn xã hội, một bên là phạm vi trong từng cơ sở. Quản trị kinh doanh là quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể doanh nghiệp lên tập thể những người lao động trong doanh nghiệp, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội để thực hiện một cách tốt nhất mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm đạt được những mục tiêu đầu ra theo đúng luật định và thông lệ xã hội [ 20, tr.
Để hoạt động của các đơn vị nói chung, các DN nói riêng đạt được hiệu quả cao thì cần thiết phải tiến hành các hoạt động quản trị. Các chức năng chủ yếu của quản trị là: xác định mục tiêu, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá. Quản trị các yếu tố đầu vào là một nội dung của công tác quản trị DN. Việc quản trị đúng đắn các yếu tố đầu vào sẽ giúp cho DN đảm bảo được hoạt động của mình một cách bình thường, liên tục, không bị gián đoạn.
Với một đầu ra xác định, việc quản lý khoa học, hợp lý các yếu tố đầu vào sẽ tạo cơ sở để DN tiết kiệm chi phí đầu vào từ đó tăng hiệu quả hoạt động của DN nói riêng, hiệu quả kinh tế của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung. Những biểu hiện cụ thể của việc quản trị đúng đắn có hiệu quả các yếu tố đầu vào là: - Đối với các yếu tố đầu vào là sức lao động: Đảm bảo bố trí, sử dụng lao động hợp lý, đầy đủ cả về số lượng và chất lượng phục vụ cho hoạt động KD của DN. Nâng cao ý thức, trách nhiệm của người lao động, kích thích thi đua trong lao động. - Đối với các yếu tố đầu vào là NLVL, hàng hóa: Đảm bảo số lượng, chất lượng, chủng loại, quy cách.
NLVL, hàng hóa cần thiết phục vụ SXKD một cách kịp thời, liên tục với chi phí dự trữ NLVL, hàng hoá hợp lý góp phần tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả KD của DN. - Đối với các yếu tố đầu vào là TSCĐ: Trang bị TSCĐ hợp lý, bảo quản tốt, sử dụng có hiệu quả phát huy tối đa năng lực phục vụ của TSCĐ trong DN, đổi mới kịp thời TSCĐ đáp ứng yêu cầu hoạt động của DN. Nhiệm vụ của kế toán trong việc phục vụ quản trị các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Để quản trị DN có hiệu quả, nhà quản trị cần phải có những thông tin về DN. Không thể thực hiện công việc quản trị DN khi không biết các thông tin về tình tài chính của DN như: tổng tài sản, tổng nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu.
chứ chưa nói đến việc quản trị có hiệu quả. Do đó, thông tin đã được coi là một thứ "quyền lực" trong quản trị hiện đại. Được coi là quyền lực, một nguồn lực, thông tin phải có giá trị. Các tiêu thức để xác định giá trị của thông tin bao gồm: chất lượng, sự phù hợp, khối lượng và tính kịp thời.
Tuy nhiên, không giống các nguồn lực vật chất, việc xác định giá trị của thông tin là một công việc không dễ dàng, bởi thông tin không có giá trị nội tại.