phần mở đầu, kết luận và các danh mục, phụ lục khác, luận văn đƣợc kết cấu thành gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về Kế toán quản trị trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần Xây dựng Đổng Thuận. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần Xây dựng Đồng Thuận. Ba chƣơng này có mối quan hệ logic để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu.
9 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 1.1 Tổng quan về tổ chức công tác kế toán quản trị trong các doanh nghiệp xây dựng 1.1 Khái niệm, bản chất kế toán quản trị Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, công tác kế toán góp phần rất quan trọng trong việc quản lý các hoạt động kinh tế. Hạch toán kế toán là môn khoa học phản ánh và giám đốc các hoạt động kinh tế ở tất cả các doanh nghiệp và tổ chức sự nghiệp. Hạch toán kế toán ra đời do yêu cầu của quy luật giá trị trong nền kinh tế đƣợc tổ chức theo hình thức sản xuất hàng hóa. Ngay trong hình thức sản xuất hàng hoá giản đơn, ngƣời sản xuất hàng hóa (cũng đồng thời là ngƣời quản lý quá trình sản xuất) phải tính toán lao động cá biệt và so sánh với hao phí lao động xã hội (thông qua trao đổi hàng hóa) để xác định hiệu quả của quá trình sản xuất.
Trong hình thức này, hạch toán kế toán chỉ có chức năng tính toán hao phí và thu nhập của cá nhân ngƣời sản xuất hàng hóa, cung cấp thông tin cho ngƣời sản xuất trong việc ra quyết định tiếp tục sản xuất hay chuyển sang kinh doanh mặt hàng mới. Do đối tƣợng phản ánh của hạch toán kế toán đơn giản nên hạch toán kế toán chủ yếu đƣợc thực hiện bằng phƣơng pháp ghi đơn hoặc do ngƣời sản xuất tự nhẩm tính. Trong giai đoạn đầu của phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa, các doanh nghiệp tƣ bản tƣ nhân còn có quy mô nhỏ, chủ doanh nghiệp là ngƣời trực tiếp quản lý mọi hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh, hạch toán kế toán chỉ có một chức năng duy nhất là cung cấp thông tin cho chủ doanh nghiệp để quản lý doanh nghiệp phục vụ cho mục đích tối đa hóa lợi nhuận. Lúc này đối tƣợng của hạch toán kế toán đã phức tạp hơn nên hạch toán kế toán phải tiến hành theo phƣơng pháp kế toán kép.
Khi phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa phát triển đến trình độ cao, các doanh nghiệp tƣ bản có quy mô lớn ngày càng nhiều, các quan hệ tài chính ngày càng phức tạp, đối tƣợng sử dụng thông tin gồm cả bên ngoài tổ chức và nội bộ tổ chức thì hạch toán kế toán đòi hỏi phải có sự phân chia thành hai bộ phận: KTTC và KTQT. KTTC 10 chủ yếu cung cấp thông tin cho các chủ thể quản lý bên ngoài tổ chức, còn KTQT phải cung cấp thông tin cho các nhà quản trị để điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong hệ thống kế toán DN ở các nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng, KTQT bắt đầu xuất hiện từ những năm cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 dƣới hình thức kế toán chi phí nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin để kiểm soát chi phí, định hƣớng sản xuất cho các nhà quản trị. Sau đó cùng với sự phát triển của nền kinh tế cũng nhƣ hiệu quả KTQT mang lại mà nó ngày càng đƣợc chú ý và phát triển nhanh chóng.
Ở Việt Nam, trong giai đoạn nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các đơn vị không chịu sức ép của cạnh tranh mà chỉ tuân theo các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nƣớc giao cho, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đƣợc thực hiện qua việc đánh giá hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nƣớc giao. Chính vì vậy khái niệm KTQT không đƣợc các doanh nghiệp quan tâm chú ý. Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế sang cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc thì các cơ quan Nhà nƣớc thực hiện chức năng quản lý Nhà nƣớc về kinh tế không can thiệp vào chức năng quản trị kinh doanh ở các doanh nghiệp. Đây chính là điều kiện để KTQT phát triển.
KTQT là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp những thông tin định lƣợng về hoạt động của một đơn vị một cách cụ thể, giúp các nhà quản lý trong quá trình ra các quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị. Trong Luật kế toán của nƣớc CHXHCN Việt Nam, thuật ngữ KTQT đƣợc giải thích: "là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán". KTQT là quy trình đảm bảo đo lƣờng tổng hợp phân tích lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban giám đốc để lập kế hoạch, đánh giá theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp và để đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này. Đứng trên góc độ sử dụng thông tin kế toán phục vụ cho chức năng quản lý của các nhà quản trị doanh nghiệp, KTQT đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “KTQT là khoa học 11 thu nhận, xử lý và cung cấp những thông tin định lƣợng về hoạt động của đơn vị một cách cụ thể, giúp cho các nhà quản lý trong quá trình ra các quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch điều hành, tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra, kiểm soát và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị”.
Nhƣ vậy, theo tác giả KTQT là một trong hai nội dung chính của công tác kế toán, là quá trình thu thập, xử lý thông tin về hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đƣợc thể hiện thông qua hệ thống báo biểu, phù hợp với nhu cầu thông tin của việc ra quyết định điều hành của các cấp quản trị khác nhau ở doanh nghiệp. Các thông tin này đƣợc lập nhanh chóng, chi tiết theo yêu cầu quản lý nhằm trợ giúp cho các nhà quản lý ra quyết định, là phƣơng tiện để kiểm soát tình hình tài chính, thực hiện quản lý trong doanh nghiệp. Trên cơ sở các nghiên cứu trên tác giả rút ra bản chất của kế toán quản trị nhƣ sau: - KTQT không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về các nghiệp vụ kinh tế thực sự phát sinh và đã thực sự hoàn thành, mà còn xử lý và cung cấp thông tin phục vụ cho việc đƣa ra các quyết định quản lý. Để có đƣợc các thông tin này, KTQT phải sử dụng các phƣơng pháp khoa học để phân tích xử lý chúng một cách linh hoạt, phù hợp với các nhu cầu thông tin của nhà quản trị.
- KTQT cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế, tài chính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của một doanh nghiệp. Những thông tin đó rất có ý nghĩa đối với những ngƣời điều hành, quản trị doanh nghiệp. Vì vậy, ngƣời ta nói KTQT là loại kế toán dành cho những ngƣời làm công tác quản lý. - KTQT là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là một chức năng quan trọng không thể thiếu đƣợc đối với hệ thống quản trị doanh nghiệp.
Nhƣ vậy, mục đích chủ yếu của KTQT là cung cấp thông tin cho các nhà quản trị trong nội bộ tổ chức để đánh giá, kiểm soát quá trình hoạt động trong khi mục đích chủ yếu của KTTC là cung cấp cơ sở thông tin cho các nhà đầu tƣ, các ngân hàng, các đối tác ký kết hợp đồng kinh tế với tổ chức. Chính vì mục đích khác nhau nên nội dung của KTQT và KTTC cũng khác nhau. KTQT cung cấp thông tin 12 hƣớng về tƣơng lai của tổ chức, trong khi KTTC cung cấp thông tin về quá khứ của tổ chức. KTQT không chỉ cung cấp thông tin tài chính mà còn cung cấp thông tin phi tài chính về các quá trình hoạt động trong nội bộ tổ chức cũng nhƣ môi trƣờng bên ngoài tổ chức.
Mặt khác, KTQT không phải tuân thủ theo các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán ban hành mà đƣợc thực hiện một cách linh hoạt nhằm đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu quản trị trong nội bộ tổ chức.2 Vai trò của kế toán quản trị trong doanh nghiệp Trách nhiệm của nhà quản trị là điều hành và quản lý các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Hoạt động quản lý đƣợc tiến hành liên tục từ khâu lập kế hoạch cho đến khâu tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá rồi sau đó lại quay lại khâu lập kế hoạch cho kỳ sau. Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp là lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch và ra quyết định để có thể thực hiện tốt các chức năng này, nhà quản trị rất cần các thông tin do KTQT cung cấp. Ở mỗi khâu của quá trình ra quyết định, KTQT thể hiện rõ vai trò trong việc cung cấp thông tin.
Tất cả chức năng cơ bản của quản lý đƣợc thể hiện cụ thể trong sơ đồ sơ đồ 1. Lập kế hoạch Đánh giá thực Ra quyết định Tổ chức hiện kế hoạch thực hiện Kiểm tra, đánh giá hoạt động (kết quả công việc) Sơ đồ 1.1: Các chức năng cơ bản của quản lý (Nguồn: Giáo trình Kế toán Quản trị- PGS TS Nguyễn Ngọc Quang) 13 Với chức năng lập kế hoạch các nhà quản trị cần xây dựng các mục tiêu chiến lƣợc cho doanh nghiệp và đề ra các bƣớc thực hiện để đạt đƣợc mục tiêu đó. Kế hoạch là một chức năng quan trọng trong quản lý, việc xây dựng kế hoạch hợp lý cho các mục tiêu tƣơng lai trong nền kinh tế thị trƣờng là vấn đề rất quan trọng với doanh nghiệp. Để có thể cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch và dự toán thì phải dựa vào những thông tin hợp lý và có cơ sở, những thông tin này chủ yếu do KTQT cung cấp.
Với chức năng tổ chức thực hiện, các nhà quản lý phải biết cách liên kết tốt nhất giữa tổ chức con ngƣời với các nguồn lực cụ thể tại doanh nghiệp để đạt mục tiêu đề ra.