CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. BẢN CHẤT CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ Trong nền kinh tế thị trường, những chủ thể tham gia vào hoạt động SX, KD có lợi ích kinh tế, quyền hạn, trách nhiệm, quan hệ khác nhau dẫn đến hình thành những nhu cầu thông tin khác nhau về các hoạt động của DN, đó là nhu cầu thông tin của nhóm đối tượng bên ngoài và nhu cầu thông tin của nhóm đối tượng bên trong. Do đó, hệ thống kế toán DN cần có hai bộ phận chuyên môn để đáp ứng nhu cầu thông tin cho hai nhóm đối tượng này, đó chính là KTTC và KTQT. Trong đó KTQT đưa ra tất cả thông tin kinh tế đã được đo lường, xử lý để cung cấp cho nhà quản lý các cấp trong DN điều hành, kiểm soát hoạt động SX KD, đưa ra quyết định lựa chọn các phương án KD, dự án đầu tư có hiệu quả kinh tế cao nhất và tối ưu nhất.
Còn KTTC phản ánh sự biến động hiện tại về vốn, tài sản của DN dưới dạng tổng quát. Quan điểm về KTQT từ trước tới nay có nhiều, nhưng do KTQT mang tính tùy ý nên nhận thức về KTQT ở các tổ chức, quốc gia không giống nhau: Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế (International Federation of Accountants- IFAC) công bố trong tài liệu tổng kết các khái niệm KTQT trên thế giới năm 1998, “KTQT là một quy trình định dạng, kiểm soát, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin tài chính, thông tin phi tài chính liên quan đến hoạt động của tổ chức cho những nhà quản trị thực hiện hoạch định, đánh giá, kiểm soát, điều hành hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu quả nguồn lực kinh tế của DN”. Theo Viện nghiên cứu KTQT Hoa kỳ (Institute of Management Accountants- IMA) , “KTQT là một quy trình nhận dạng, tổng hợp, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin thích hợp cho nhà quản trị thiết lập chiến lược KD, hoạch định, kiểm soát hoạt động, ra quyết định KD, sử dụng có hiệu quả nguồn lực kinh tế, cải tiến 4 và nâng cao giá trị DN, đảm bảo an toàn cho tài sản, kết hợp chặt chẽ với việc quản trị và kiểm soát nội bộ” Theo Luật kế toán của Việt Nam số 03/2003/QH11 ngày 17 tháng 6 năm 2003 thì “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” Theo các quan điểm trên cho thấy KTQT xem như là một bộ phận chuyên môn của hệ thống kế toán DN; là quá trình định dạng, đo lường, phân tích diễn giải và truyền đạt thông tin kinh tế, tài chính cho nhà quản trị các cấp trong DN; mục đích sử dụng thông tin là để hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá, kiểm soát ra quyết định. Trong mỗi DN CP phát sinh ở tất cả các giai đoạn hoạt động (nghiên cứu nhu cầu – đầu tư, mua sắm, tích lũy các nguồn lực – hoạt động SX – hoạt động tiêu thụ) và ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của DN.
Vì vậy, thông tin CP giữ vai trò quan trọng trong hệ thống thông tin hoạt động của DN. Nhu cầu thông tin CP luôn gia tăng cả về tốc độ, tính chính xác, tính đầy đủ, tính linh hoạt để phục vụ cho các quyết định kinh tế liên quan tới giá trị thành phẩm, giá vốn, giá bán, lợi nhuận, kiểm soát, xây dựng và hoàn thiện định mức CP của nhà quản lý các cấp trong DN. Đây chính là mục tiêu của kế toán nói chung và của kế toán CP nói riêng. Kế toán CP dưới góc độ KTTC, bộ phận kế toán CP có chức năng tính toán, đo lường CP đã phát sinh trong tổ chức theo đúng nguyên tắc, chuẩn mực kế toán để cung cấp thông tin về giá thành, giá vốn hàng bán, các CP hoạt động và giá trị hàng tồn kho trên Báo cáo tài chính.
Còn kế toán CP dưới góc độ KTQT, bộ phận kế toán CP có chức năng định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và truyền đạt về thông tin CP (bao gồm cả những thông tin quá khứ, dự báo và ước tính) của các SP, các hoạt động, các trung tâm CP và khả năng sinh lời của tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu năng của quá trình hoạt động SX, KD. Do đó, theo quan điểm của tác giả thì KTQT CP chính là một bộ phận chuyên môn của hệ thống KTQT có nhiệm vụ cung cấp thông tin về CP cho nhà quản lý các cấp trong mỗi tổ chức để thực hiện quản lý các nguồn lực nhằm thực hiện các chức năng quản lý DN. VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHỨC NĂNG NĂNG CỦA QUẢN LÝ 1. Quản trị doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
KTQT CP được coi là một bộ phận của kế toán nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản lý hoạch định, đánh giá, kiểm soát hoạt động của tổ chức và ra quyết định. Quá trình SX sản phẩm và cung ứng dịch vụ của DN thực chất là sự hợp thành một cách có hệ thống, có tổ chức của nhiều hoạt động khác nhau, tựu chung lại các hoạt động trong một tổ chức được chia thành 4 nhóm chung như sau: Các hoạt động quản trị, điều hành (4) Các hoạt động Các hoạt động Các hoạt động đầu vào sản xuất, chế tạo đầu ra (1) (2) (3) Sơ đồ 1. Bốn nhóm hoạt động cơ bản của doanh nghiệp Các hoạt động đầu vào gồm các hoạt động liên quan tới giao dịch với nhà cung cấp; chuẩn bị sẵn sàng để SX, chế tạo, KD sản phẩm. Các hoạt động SX, chế tạo gồm các hoạt động liên quan tới việc sử dụng các nguồn lực trong SX, chế tạo, KD sản phẩm.
Các hoạt động đầu ra gồm các hoạt động liên quan với việc giao tiếp, giao dịch với khách hàng. Các hoạt động quản trị, điều hành gồm: lập kế hoạch, kiểm soát hoạt động, kiểm soát tổ chức và ra quyết định, các hoạt động này không thể tách rời nhằm phục vụ 3 nhóm hoạt động trên [9, tr20]. Các hoạt động trong tổ chức liên kết với nhau thành chuỗi nhằm tạo ra giá trị mới dưới hình thức sản phẩm cung cấp cho khách hàng. Một chuỗi như thế là một chuỗi giá trị với mỗi mắt xích bổ sung thêm một yếu tố gì đó để làm tăng giá trị cho sản phẩm khi sản phẩm đi qua mắt xích đó và cuối cùng làm gia tăng giá trị cho khách hàng.
Có thể mô tả chuỗi giá trị như sau: 6 Nghiên cứu Dịch vụ Marke- và Thiết kế ting Tiêu thụ sau Sản xuất phát triển bán hàng Sơ đồ 1. Chuỗi giá trị Với quan điểm tổ chức là chuỗi giá trị cũng có nghĩa từng bộ phận trong tổ chức (từng mắt xích trong chuỗi) đều có bộ phận đứng trước, được xem như nhà cung cấp, và bộ phận đứng sau được coi như là khách hàng. Đây là quan điểm đơn giản nhưng có giá trị cao vì gợi mở một sự suy nghĩ về sự phối hợp trong tổ chức sao cho các mắt xích của chuỗi luôn luôn gắn kết với nhau [32, tr25], [9, tr21]. Trên đây là quan điểm về hoạt động của tổ chức, từ cách hiểu từng hoạt động cụ thể cho tới sự liên kết các hoạt động này tạo thành chuỗi giá trị, do đó mô hình tổ chức quản trị cũng có sự thay đổi.
Mô hình tổ chức quản trị hoạt động KD trên cơ sở qui trình hoạt động KD theo nhu cầu thị trường trải qua hai mô hình là mô hình tổ chức quản trị cố định và mô hình tổ chức quản trị linh hoạt. Mô hình tổ chức quản trị KD cố định áp dụng khi môi trường bên ngoài ổn định, tổ chức nội bộ được định rõ và được thiết lập bằng qui định, luật lệ, thủ tục, thứ bậc rõ ràng và phần lớn các quyết định được thiết lập từ nhà quản trị cao cấp. Mô hình tổ chức quản trị KD linh hoạt được áp dụng khi môi trường bên ngoài thay đổi nhanh chóng, tổ chức nội bộ nới lỏng và được tự do hơn để thích nghi với môi trường KD, những qui định, luật lệ thường không được thiết lập ổn định hoặc có thể bị xem nhẹ, lúc này DN thường đề ra cách giải quyết riêng biệt, thứ bậc tổ chức không rõ ràng, các quyết định quản trị được thiết lập phân tán. Ngày nay, dưới áp lực thay đổi của môi trường, cạnh tranh gay gắt thì mô hình tổ chức quản trị linh loạt, tổ chức hệ thống quản trị, trách nhiệm linh hoạt đang chiếm ưu thế trong chiến thuật, chiến lược tổ chức quản trị KD của DN và gắn chặt với các phương thức và tư duy quản trị.
Cùng với sự thay đổi của mô hình tổ chức quản trị thì phương thức và tư duy quản trị cũng thay đổi. Phương thức quản trị hoạt động KD theo tư duy giá trị gia tăng được tiến hành bằng việc phân chia hoạt động KD thành những công đoạn đơn 7 giản và cơ bản nhất từ đó hướng hành động quản trị theo từng công đoạn, do đó phương thức này được áp dụng khi SX chưa đáp ứng được nhu cầu thiết yếu xã hội và quyết định tiêu dùng, chu kỳ sống của sản phẩm kéo dài, ổn định, công nghệ SX thủ công và bán tự động và tương đối ổn định, qui mô SX nhỏ, sự liên kết chỉ trong phạm vi hẹp ở từng bước, công nghệ xử lý thông tin đơn giả, chưa gắn kết. Phương thức quản trị hoạt động KD theo tư duy chuỗi giá trị là sự thoát khỏi phương thức quản trị theo từng công đoạn, theo chức năng được phân chia rõ ràng để đạt tới qui trình toàn bộ dựa trên triết lý liên kết, hợp tác theo chuỗi giá trị, nghĩa là qui trình hoạt động KD là hệ thống liên kết, hợp tác để tận dụng triệt để các nguồn lực của các đối tượng tham gia trong qui trình tạo giá trị của hoạt động KD [10, tr53], do đó hoạt động quản trị được xác lập theo từng chuỗi giá trị và mỗi nhà quản lý chỉ là một mắt xích trong quản trị qui trình tạo giá trị, cho nên nhà quản lý cần quan tâm tới sự liên kết, định vị hoạt động KD của mình trong hệ thống liên kết cũng như giá trị mà họ góp phần tạo ra trong chuỗi.