Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ VIỆC LÀM VÀ TỔ CHỨC GIỚI THIỆU VIỆC LÀM 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VIỆC LÀM 1. Quan niệm về việc làm Lao động và việc làm là một trong những vấn đề xã hội có tính toàn cầu, là mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia trên thế giới. Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội và nhân khẩu, nó thuộc những vấn đề chủ yếu của toàn bộ đời sống xã hội, việc làm là một khái niệm hết sức trừu tượng.
Vì, việc làm được coi là một trong những vấn đề sống còn của toàn xã hội, nó không chỉ có ý nghĩa đơn thuần là có việc để làm, mà việc làm còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau như: kinh tế, xã hội, chính trị, pháp lý cũng như phải đáp ứng được các yêu cầu đặt ra mới được coi là việc làm. Dựa vào đặc điểm kinh tế - xã hội của mỗi nước, tùy theo cách tiếp cận khác nhau, song phải phù hợp với các tiêu chí chung trong quan niệm về việc làm của ILO, nên các quốc gia trong đó có Việt Nam đã đưa ra quan niệm về việc làm khác nhau. Quan niệm về việc làm của các nước trên thế giới Việc làm là một vấn đề kinh tế - xã hội hết sức nhạy cảm, an toàn về việc làm là một trong những yếu tố cơ bản để bảo đảm cho sự phát triển và bền vững của mỗi quốc gia. Muốn giải quyết một cách có hiệu quả về những vấn đề liên quan đến việc làm, điều đầu tiên là các quốc gia phải đưa ra khái niệm về việc làm, cũng như phải phân biệt rõ khái niệm việc làm với khái niệm lao động.
Hai khái niệm này mặc dù luôn đi đôi với nhau và giữa chúng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có mối quan hệ biện chứng với nhau, nhưng chúng không hề đồng nhất với nhau. Lao động là hoạt động của con người diễn ra giữa con người với tự nhiên.Mác đã nói: "Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người với tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên. Lao động là điều kiện đầu tiên và chủ yếu để con người tồn tại" [28, tr. Ngày nay, khái niệm lao động đã được mở rộng.
Lao động là hoạt động có mục đích, có ích của con người tác động lên giới tự nhiên, xã hội nhằm mang lại của cải vật chất, tinh thần cho bản thân và cho xã hội. Bất cứ một xã hội nào muốn tồn tại và phát triển đều phải không ngừng phát triển sản xuất. Điều này có nghĩa là không thể thiếu lao động, lao động là nguồn gốc và động lực phát triển của xã hội. Bởi vậy, xã hội càng văn minh thì tính chất, hình thức và phương pháp tổ chức lao động sẽ càng tiến bộ.
Khái niệm về việc làm chỉ xuất hiện khi lao động đã trở thành một nhu cầu sáng tạo, một lối sống văn hóa của con người, và việc làm lúc này không chỉ là vấn đề kiếm sống mà còn là điều kiện để hoàn thiện và phát triển nhân cách của con người. Trên thế giới, khái niệm việc làm chủ yếu được nêu trong các ấn phẩm, các công trình nghiên cứu của cá nhân hoặc nhóm các cá nhân. Theo Giăng Mute, cố vấn của Văn phòng ILO (Giơ-ne-vơ): "Việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có trả công bằng tiền hoặc hiện vật do có một sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất". Còn theo Guy Hân-tơ, chuyên viên Viện phát triển hải ngoại Luân Đôn: "Việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là tất cả những gì quan hệ đến cách thức kiếm sống của con người, kể cả các quan hệ xã hội và tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế".
Để hiểu rõ và sâu hơn khái niệm lao động, việc làm với tư cách là đối tượng của các vấn đề liên quan đến lao động, việc làm thì chúng ta không chỉ dừng lại ở các khái niệm chung về lao động, việc làm như trên, mà còn phải tìm hiểu các khái niệm liên quan như: Lực lượng lao động; người có việc làm; thất nghiệp. Để làm rõ hệ thống khái niệm khái niệm trên, ILO đã đưa ra quan niệm về lực lượng lao động và mô tả nó bằng sơ đồ có tính chất chung nhất như sau: Cơ cấu về lực lượng lao động [37, tr. 39] Dân số trong độ tuổi lao động quy định (A) Có việc làm Không có việc làm (B) (C) Muốn làm việc Không muốn làm việc E - Chủ động tìm việc Không chủ động N - Sẵn sàng tìm việc tìm việc U N Lực lượng lao động E: Người có việc làm Không thuộc lực U: Người thất nghiệp lượng lao động N: Người không tham gia hoạt động kinh tế 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo sơ đồ trên, ILO đã đưa ra một số khái niệm sau: - Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định (tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế - chính trị của từng nước) thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm. Về cơ bản khái niệm lực lượng lao động nêu trên được thống nhất ở nhiều nước và cũng là khái niệm chính thức mà ILO đưa ra.
Điều khác nhau ở mỗi nước chủ yếu là độ tuổi quy định, ở đây có hai sự khác biệt. Khác biệt thứ nhất là quy định giới hạn độ tuổi tối thiểu. Ví như Ai Cập độ tuổi tối thiểu là 6 tuổi; Braxin là 10 tuổi, Ôxtrâylia là 15 tuổi, ở Mỹ là 16 tuổi, phần lớn các nước quy định độ tuổi này là từ 14 hoặc 15 tuổi. Khác biệt thứ hai là quy định giới hạn về độ tuổi tối đa của lực lượng lao động.
Ở một vài nước công nghiệp như: Đan Mạch, Thụy Sỹ, Na Uy, Phần Lan lấy tuổi tối đa là 74. Còn một số nước đang phát triển như Ai Cập, Malaysia, Mêhicô quy định là 65 tuổi. Song hiện nay ở nhiều quốc gia và ngay cả ILO đã không quy định giới hạn tuổi tối đa và để mở ở độ tuổi này [37]. - Người có việc làm là người làm một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật, hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật.
Khái niệm việc làm trên được chính thức nêu ra tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 của các nhà thống kê lao động ILO năm 1983 và được áp dụng ở nhiều nước. - Người thiếu việc làm là người trong độ tuổi lao động đang có việc làm nhưng thời gian làm việc ít hơn mức chuẩn quy định và người lao động đó có nhu cầu làm thêm. Ngược với khái niệm người thiếu việc làm, khái 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com niệm người đủ việc làm là người làm việc với thời gian không ít hơn mức chuẩn hoặc ít hơn mức chuẩn nhưng không có nhu cầu làm thêm. - Về khái niệm thất nghiệp, ILO đưa ra định nghĩa: "Thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng không có việc làm, đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được trở lại làm việc".
Để xác định rõ những người thất nghiệp, ILO đã đưa ra những tiêu chí xét trong khoảng thời gian nhất định; những người thất nghiệp là những người sau: + Không có việc làm + Có khả năng làm việc + Tích cực tìm việc làm. Thất nghiệp dài hạn được hiểu từ 12 tháng/năm; thất nghiệp ngắn hạn là dưới 12 tháng/năm. Việc xác định thống nhất nhận thức về các khái niệm trên của ILO sẽ tạo cơ sở cho việc định ra các chuẩn mực cơ bản để xác định, thống kê, đánh giá thực trạng lao động, việc làm và thất nghiệp của mỗi quốc gia trên thế giới. Dựa trên cơ sở các khái niệm này mà các quốc gia trên thế giới đã có những cách tiếp cận khác nhau về khái niệm việc làm.
Ở Ấn Độ, họ dựa vào thời gian làm việc bình thường được quy định trong các văn bản pháp luật để làm căn cứ đánh giá xem một người nào đó có việc làm hay không. Họ còn quy định: Những ai không làm việc một giờ nào trong một tuần lễ thì vào thời gian điều tra sẽ bị liệt vào loại thất nghiệp; những ai làm việc ít hơn số giờ quy định thì được coi là thiếu việc làm. Ở Chi Lê, họ dựa vào tiêu chí thu nhập để định nghĩa về việc làm. Cụ thể: nếu trong thời gian điều tra mà đối tượng hoàn toàn không có một khoản thu nhập nào thì được coi là không có việc làm, nếu thu nhập thấp hơn tiền lương tối thiểu của xã hội thì được coi là thiếu việc làm.
Trung Quốc lại đưa ra định nghĩa về 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc làm như sau: "Việc làm là một người làm một việc lao động xã hội nhất định thuộc công lao động hoặc kinh doanh có thu nhập" [47]. Khái niệm việc làm mang tính chất trừu tượng, nên một số quốc gia đã đưa ra quan niệm về việc làm dựa vào khái niệm đối lập, đó là khái niệm thất nghiệp của ILO. Mặc dù có rất nhiều quốc gia đã sử dụng khái niệm thất nghiệp để đưa ra quan niệm về việc làm, nhưng mỗi quốc gia lại có quan niệm khác nhau về khoảng thời gian không có việc làm (thất nghiệp). Ví như, ở Ôxtrâylia xác định thất nghiệp là người không có việc làm trong tuần lễ điều tra và đã chủ động tìm việc làm cả ngày hoặc nửa ngày tại bất kỳ một thời điểm nào trong bốn tuần, bao gồm cả tuần điều tra và sẵn sàng làm việc khi có việc làm.
Ở Pháp đưa ra khái niệm thất nghiệp một cách ngắn gọn hơn, đó là: "Người thất nghiệp là người có đủ điều kiện làm việc nhưng không có việc làm hoặc đang tìm việc làm". Thái Lan lại quan niệm: Người thất nghiệp là người không có việc làm trong thời gian bảy ngày trước lúc điều tra. Như vậy, việc đưa ra khái niệm về việc làm tưởng chừng như đơn giản, nhưng thực ra lại là vấn đề hết sức phức tạp.