Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục (mã số: 62.01) của nghiên cứu sinh Bùi Việt Phú, được hoàn thành năm 2009 tại Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.VS. Phạm Tất Dong và PGS.TS. Đặng Xuân Hải. Đề tài tập trung vào việc nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn và đề xuất các giải pháp quản lý nhằm tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp (GDHN) cho học sinh trung học phổ thông (THPT) theo tinh thần xã hội hóa (XHH).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH - HĐH), tiếp cận kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế đòi hỏi sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động. Công tác GDHN theo Quyết định số 126/CP ngày 19/3/1981 của Hội đồng Chính phủ qua nhiều năm đã bộc lộ những điểm không còn phù hợp với thực tiễn phát triển. Thực tế cho thấy hàng năm cả nước có gần một triệu học sinh tốt nghiệp THPT và Bổ túc THPT đăng ký dự thi đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ), trung cấp (TC), trong đó có trên 40% được tuyển, số còn lại chưa được chuẩn bị chu đáo để tham gia vào thị trường lao động. Tâm lý xã hội chạy đua thi vào đại học, xem nhẹ học nghề đã gây nên tình trạng mất cân đối nguồn nhân lực.

Một nguyên nhân cơ bản dẫn đến hạn chế của GDHN là công tác này chỉ bó hẹp trong phạm vi trường phổ thông và các trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp (KTTH-HN), trong khi điều kiện cơ sở vật chất (CSVC) và đội ngũ của nhà trường còn thiếu thốn. Việc huy động các lực lượng xã hội (doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, gia đình, đoàn thể) tham gia tổ chức GDHN chưa được các cấp quản lý quan tâm đúng mức. Khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định là sự thiếu vắng một hệ thống giải pháp quản lý đồng bộ nhằm thiết kế cơ cấu, cơ chế phối hợp và huy động tổng thể các nguồn lực xã hội hóa cho công tác GDHN ở cấp THPT.

Mục tiêu và giả thuyết nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần XHH, luận án đề xuất các giải pháp tổ chức GDHN nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác hướng nghiệp trong trường THPT.
  • Giả thuyết khoa học: Công tác tổ chức GDHN ở trường THPT đang tồn tại nhiều bất cập về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Nếu nhà trường thực hiện đồng bộ hệ thống năm nhóm giải pháp tổ chức GDHN theo tinh thần xã hội hóa (bao gồm: tổ chức nhận thức; tổ chức nội dung; cung ứng nhân lực; cung ứng vật lực, tài lực; và tổ chức cơ chế phối hợp) thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả GDHN cho học sinh THPT, đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Nhiệm vụ nghiên cứu

  1. Xây dựng cơ sở lý luận về tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần xã hội hóa.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng GDHN và công tác tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần xã hội hóa tại địa bàn nghiên cứu.
  3. Đề xuất các nhóm giải pháp tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần xã hội hóa và tiến hành khảo nghiệm, thử nghiệm tính cần thiết, tính khả thi của các giải pháp.

Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông của các cấp quản lý giáo dục.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông với sự tham gia của các lực lượng xã hội.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Tập trung vào các giải pháp quản lý tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần XHH trong phạm vi cấp tỉnh và cấp trường THPT.
    • Về không gian và địa bàn khảo sát: Tiến hành điều tra thực trạng tại 21 trường THPT và 14 trung tâm KTTH-HN thuộc 2 tỉnh Quảng Trị và Hà Tĩnh.
    • Về phạm vi thử nghiệm: Tổ chức thử nghiệm các giải pháp tại 6 trường THPT thuộc tỉnh Quảng Trị và thành phố Đà Nẵng trong năm học 2005 - 2006.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về GDHN và xã hội hóa giáo dục hướng nghiệp trên cả bình diện quốc tế và trong nước:

Các nghiên cứu quốc tế

  • Pháp: Công tác GDHN xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX với tài liệu "Hướng dẫn chọn nghề". Sau cải cách giáo dục 1975, GDHN được đưa qua môn Công nghệ theo công trình "Những vấn đề nội dung giáo dục trong nhà trường Pháp". Các tác giả tại Viện Nghiên cứu Quốc gia về Lao động và Hướng nghiệp Paris như Anne Lancry-Hoest Landt, Regis Ouvrier-Bonnaz, Rene-Pierre Halter đã phân tích mô hình phối hợp giữa nhà trường, thị trường lao động và các trung tâm hướng nghiệp.
  • Liên Xô / Liên bang Nga: Các nhà khoa học N. Kalinin, N.K. Krupskaya (phát triển nguyên lý giáo dục kỹ thuật tổng hợp của V.I. Lenin), M.N. Skatkin ("Hoàn thiện quá trình dạy học"), N. Pokrovxki và P.R. Atutov đã làm rõ mối quan hệ giữa học tập với lao động sản xuất và giáo dục công nghệ. Năm học 1994 - 1995, Bộ Giáo dục Nga đưa chương trình Công nghệ thay thế cho chương trình Lao động và Kỹ thuật.
  • Trung Quốc: Đưa môn kỹ thuật lao động vào giảng dạy bắt buộc từ tiểu học đến THCS, THPT; kết hợp thực hành gia công đồ gỗ, kim loại, lắp ráp điện, điện tử và huy động các nhà máy, xí nghiệp tham gia hướng nghiệp.
  • Hoa Kỳ: Triển khai chương trình "Giáo dục nghề nghiệp" (Career Education), thành lập các Hội đồng phối hợp trường học - xí nghiệp với sự tham gia của hơn 60.000 nghiệp đoàn, thu hút trên 600.000 học sinh thực hành mỗi năm.
  • Cộng hòa Liên bang Đức: Nghiên cứu của Heinz Frankiewicz, B. Gerner, H. Marschneider nhấn mạnh mô hình phối hợp chặt chẽ giữa trường phổ thông và các trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp, thực hiện phân luồng học sinh sau lớp 5, lớp 10 và lớp 12/13.
  • Úc: Allan Walker ("Một số vấn đề về quản lý giáo dục ở Australia") và các tài liệu hướng nghiệp Úc xác định 4 nhiệm vụ của GDHN: học về bản thân, học về thế giới việc làm, học làm kế hoạch/ra quyết định, và ứng dụng quyết định hướng nghiệp.
  • Nhật Bản: Megumi Nishino (Viện Nghiên cứu Giáo dục Nhật Bản) và Luật duy trì hệ thống khuyến khích học tập suốt đời (1990) định hướng giáo dục kỹ năng thích ứng nghề nghiệp thông qua sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng.
  • UNESCO: Báo cáo của Jacques Delors nêu rõ 4 cột trụ giáo dục ("Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tồn tại"), định hướng huy động xã hội tham gia GDHN và phân luồng học sinh.

Các nghiên cứu tại Việt Nam

  • Nghị quyết số 14-NQ/TW (11/1/1979) của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục và Quyết định 126/CP (1981) tạo cơ sở chính sách cho công tác GDHN.
  • Phạm Minh Hạc (1988) nghiên cứu về giáo dục kỹ thuật phục vụ phát triển công nghệ; Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Đoàn Chi nghiên cứu hứng thú, khuynh hướng nghề nghiệp và chương trình hướng nghiệp chính khóa; Viện Khoa học Dạy nghề và Tổng cục Dạy nghề (1979 - 1986) nghiên cứu phòng hướng nghiệp, tư vấn nghề và bản mô tả nghề (Đặng Danh Ánh, Nguyễn Viết Sự, Đỗ Thị Hòa, Phạm Đức Quang).
  • Nguyễn Trọng Bảo, Đoàn Chi, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Viết Sự, Nguyễn Toàn phân tích vai trò của lao động - kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp trong trường phổ thông.
  • Nguyễn Văn Hộ (1988, 2006) xây dựng cơ sở sư phạm cho hệ thống hướng nghiệp và các hình thức phối hợp với cơ sở đào tạo nghề, sản xuất.
  • Đề tài cấp Nhà nước do Phạm Tất Dong chủ trì cùng Vũ Văn Tảo, Nguyễn Như Ất, Lưu Đình Mạc, Phạm Huy Thụ (khảo sát trên 35 tỉnh, thành phố) đề xuất đưa môn Công nghệ học vào trường phổ thông giai đoạn 2005 - 2010.
  • Các công trình của Nguyễn Văn Lê, Trần Khánh Đức, Hà Thế Truyền, Bùi Văn Quân, Nguyễn Đức Trí, Phạm Ngọc Uyển, Phạm Huy Thụ, Vũ Tiến Trinh; các luận văn của Đào Công Minh (2006), Nguyễn Ngọc Minh (2007) khảo sát thực trạng nhận thức và nhu cầu tư vấn hướng nghiệp.

Khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào khía cạnh tâm lý học, sư phạm học, hoặc nội dung dạy học kỹ thuật - công nghệ trong nội bộ nhà trường. Luận án của Bùi Việt Phú tiếp cận GDHN dưới góc độ khoa học Quản lý giáo dục, tập trung giải quyết khoảng trống về cơ chế quản lý, phương thức liên kết liên ngành và quy trình tổ chức huy động các lực lượng xã hội tham gia GDHN cho học sinh THPT.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ

  1. Hướng nghiệp (Vocational Guidance): Là hệ thống các biện pháp của gia đình, nhà trường và xã hội (trong đó nhà trường giữ vai trò chủ đạo) nhằm giúp học sinh có kiến thức về nghề nghiệp, tự đánh giá năng lực, sở trường để lựa chọn nghề phù hợp với nhu cầu nhân lực xã hội. Cấu trúc công tác hướng nghiệp gồm 3 khâu liên hoàn: Định hướng nghề – Tư vấn nghề – Tuyển chọn nghề.
  2. Tổ chức và Tổ chức giáo dục hướng nghiệp:
    • Vận dụng lý thuyết quản lý của P.M. Kecgientxep (với 7 yếu tố: mục tiêu, loại hình tổ chức, phương pháp, con người, phương tiện vật chất, thời gian) và G. Buschges (5 đặc trưng và 3 đặc điểm của tổ chức).
    • Tổ chức GDHN được hiểu ở hai góc độ: là cơ cấu bộ máy quản lý và là một chức năng quản lý nhằm huy động, phân bổ các nguồn lực để triển khai hoạt động GDHN trong và ngoài nhà trường.
  3. Xã hội hóa và Xã hội hóa giáo dục hướng nghiệp:
    • Dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật: Nghị quyết 90-NQ/CP (1997), Nghị định 73/1999/NĐ-CP, Nghị quyết 05/2005/NQ-CP và Điều 12 Luật Giáo dục sửa đổi năm 2005.
    • XHHGDHN là quá trình mở rộng sự tham gia, nâng cao trách nhiệm và phát huy đóng góp về nhân lực, vật lực, tài lực của các tổ chức kinh tế, xã hội, đoàn thể và gia đình phối hợp cùng ngành giáo dục trong hoạt động hướng nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong quản lý giáo dục:

  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp văn kiện chính sách của Đảng, Nhà nước, văn bản quy phạm pháp luật, các công trình khoa học trong và ngoài nước về GDHN và quản lý GDHN.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Điều tra bằng bảng hỏi: Trưng cầu ý kiến cán bộ quản lý giáo dục (CBQLGD), giáo viên (GV), học sinh (HS) tại 21 trường THPT và 14 trung tâm KTTH-HN ở Quảng Trị và Hà Tĩnh nhằm đánh giá thực trạng và khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi của các giải pháp.
    • Phương pháp tọa đàm, phỏng vấn sâu: Trao đổi trực tiếp với CBQLGD, chuyên gia giáo dục và đại diện các cơ quan ban ngành, doanh nghiệp.
    • Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Đánh giá các mô hình GDHN trong các trường THPT công lập, ngoài công lập và trung tâm KTTH-HN.
    • Phương pháp khảo nghiệm và thử nghiệm sư phạm: Tổ chức thử nghiệm 3 nhóm giải pháp tại 6 trường THPT ở tỉnh Quảng Trị và thành phố Đà Nẵng trong năm học 2005 - 2006.
    • Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia và phương pháp so sánh: Đối chiếu các mô hình và dữ liệu khảo sát.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần xã hội hoá

Chương 1 xây dựng khung lý luận về quản lý hoạt động GDHN dưới góc độ xã hội hóa. Tác giả phân tích các khái niệm cốt lõi, xác định 3 khâu của công tác hướng nghiệp và làm rõ cơ cấu tổ chức GDHN trong trường phổ thông.

Yếu tố cơ cấu Thành phần tham gia Chức năng chính
Cấp quản lý trường học Hiệu trưởng, Ban Hướng nghiệp Xây dựng kế hoạch, chỉ đạo, điều phối các nguồn lực và thiết lập mối quan hệ với xã hội
Lực lượng sư phạm nòng cốt Các tổ chuyên môn, Tổ giáo viên chủ nhiệm Tích hợp GDHN qua môn học (Công nghệ, Khoa học), tư vấn định hướng cho học sinh
Tổ chức đoàn thể Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Tổ chức các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ tìm hiểu nghề nghiệp, tham quan thực tế
Lực lượng xã hội phối hợp Hội đồng GDHN cấp tỉnh/huyện, Doanh nghiệp, CMHS Cung cấp thông tin thị trường lao động, hỗ trợ kinh phí, CSVC và tiếp nhận học sinh thực tập

Chương này xác lập 5 quan điểm đổi mới tổ chức GDHN cho học sinh THPT:

  1. Bám sát yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động: Hướng nghiệp theo xu hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ.
  2. Phục vụ nhu cầu phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH - HĐH: Phù hợp với các chỉ tiêu chuyển dịch cơ cấu GDP giai đoạn 2001 - 2010 (nông nghiệp giảm xuống 16 - 17%, công nghiệp tăng lên 40 - 41%, dịch vụ lên 43%; lao động nông nghiệp giảm xuống 50%, công nghiệp - dịch vụ lên 50%; nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo từ mức 24,8% năm 2005).
  3. Đáp ứng yêu cầu kinh tế thị trường và tiếp cận kinh tế tri thức: Tăng cường làm quen với máy móc, quy trình sản xuất hiện đại (khắc phục thực trạng sản xuất thủ công 70% - 80%, cơ giới hóa chỉ đạt 20% - 30%) và 4 nhóm công nghệ cao: thông tin, sinh học, vật liệu mới, tự động hóa.
  4. Gắn việc học tập của học sinh với việc làm chủ công nghệ mới.
  5. Gắn với quá trình dạy học phân ban THPT.

Chương 2. Cơ sở thực tiễn về GDHN và tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần XHH

Chương 2 trình bày kết quả phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội, dữ liệu thống kê toàn quốc và kết quả điều tra thực trạng tại hai tỉnh Quảng Trị và Hà Tĩnh.

1. Hệ thống dữ liệu thực trạng GDHN toàn quốc

Thực trạng triển khai GDHN qua 4 con đường tại trường THPT (dạy học các môn văn hóa, hoạt động GDHN chính khóa, dạy nghề phổ thông và hoạt động ngoại khóa) và hệ thống trung tâm KTTH-HN được tổng hợp qua các bảng thống kê trong luận án:

Tiêu chí / Chỉ số thống kê Dữ liệu trong văn bản luận án
Quy mô học nghề phổ thông Số lượng trường THPT và trung tâm KTTH-HN tham gia dạy nghề tăng, nhưng cơ cấu nghề còn nghèo nàn, tập trung chủ yếu vào Tin học, May, Nấu ăn, Điện dân dụng
Số lượng trung tâm KTTH-HN Tăng trưởng từ giai đoạn 1980 đến 2006, tuy nhiên CSVC và trang thiết bị phục vụ đào tạo thực hành còn thiếu thốn, lạc hậu
Đội ngũ giáo viên Công nghệ & HN Thiếu giáo viên được đào tạo chuyên trách; phần lớn là giáo viên kiêm nhiệm các môn Lý, Hóa, Sinh, Kỹ thuật chuyển sang
Thực trạng phân luồng sau THPT Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT thi vào ĐH, CĐ chiếm tỷ lệ áp đảo; luồng vào học nghề và trung cấp chuyên nghiệp còn rất thấp

2. Kết quả điều tra thực trạng tại Quảng Trị và Hà Tĩnh

Khảo sát tại 21 trường THPT và 14 trung tâm KTTH-HN thuộc 2 địa phương cho thấy:

  • Về nhận thức: Đa số cán bộ quản lý và giáo viên thừa nhận tầm quan trọng của GDHN, nhưng mức độ hiểu biết về thị trường lao động, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề và kỹ năng tư vấn hướng nghiệp còn nhiều hạn chế.
  • Về hình thức tổ chức: Hoạt động GDHN chủ yếu thực hiện theo hình thức sinh hoạt định kỳ trong lớp học mang tính lý thuyết; các hình thức tham quan doanh nghiệp, thực hành tại cơ sở sản xuất rất ít được tổ chức.
  • Về sự phối hợp xã hội: Mối quan hệ giữa nhà trường với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, trường chuyên nghiệp và Hội cha mẹ học sinh (CMHS) chưa được thể chế hóa, phần lớn chỉ dừng lại ở sự hỗ trợ tài chính tự nguyện mang tính vụ việc, chưa hình thành cơ chế điều phối liên ngành.

Chương 3. Một số giải pháp tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT theo tinh thần xã hội hoá

Chương 3 đề xuất hệ thống năm nhóm giải pháp quản lý đồng bộ và kết quả kiểm nghiệm thực tế:

1. Hệ thống 5 nhóm giải pháp quản lý

  1. Nhóm giải pháp về Tổ chức nhận thức: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và các tổ chức xã hội về vai trò của GDHN và trách nhiệm xã hội hóa hướng nghiệp thông qua tuyên truyền, hội thảo, chuyên đề.
  2. Nhóm giải pháp về Tổ chức nội dung: Đổi mới nội dung chương trình GDHN gắn với môn Công nghệ, phân ban THPT, bổ sung kiến thức về thị trường lao động địa phương, 4 nhóm công nghệ cao và các ngành kinh doanh - dịch vụ.
  3. Nhóm giải pháp về Cung ứng nhân lực: Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách hướng nghiệp trong trường THPT; bồi dưỡng kỹ năng tư vấn cho giáo viên chủ nhiệm; huy động các chuyên gia kinh tế, kỹ sư, nhà doanh nghiệp, nghệ nhân tham gia thỉnh giảng, nói chuyện chuyên đề nghề nghiệp.
  4. Nhóm giải pháp về Cung ứng vật lực, tài lực: Đa dạng hóa nguồn kinh phí đầu tư cho GDHN từ ngân sách nhà nước, đóng góp của các tổ chức kinh tế - xã hội, quỹ khuyến học; khai thác cơ sở vật chất, xưởng sản xuất của các doanh nghiệp và trung tâm dạy nghề cho học sinh thực hành.
  5. Nhóm giải pháp về Tổ chức cơ chế phối hợp: Thành lập Ban chỉ đạo/Hội đồng GDHN các cấp; xây dựng quy chế phối hợp cụ thể giữa Trường THPT – Trung tâm KTTH-HN – Doanh nghiệp/Cơ sở đào tạo – Hội CMHS.

2. Kết quả khảo nghiệm và thử nghiệm

  • Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi: Kết quả trưng cầu ý kiến các nhà quản lý giáo dục và giáo viên (trình bày tại Bảng 8 của luận án) khẳng định 5 nhóm giải pháp đều đạt mức độ cần thiết và khả thi cao, có mối quan hệ nhân - quả tác động tương hỗ.
  • Thử nghiệm thực tế: Tiến hành áp dụng thử nghiệm 3 nhóm giải pháp (Tổ chức nhận thức, Tổ chức nội dung, và Tổ chức cơ chế phối hợp) tại 6 trường THPT thuộc tỉnh Quảng Trị và TP. Đà Nẵng năm học 2005 - 2006. Kết quả (tổng hợp tại Bảng 10 và Bảng 11 của luận án) ghi nhận:
    • Tỷ lệ học sinh có hiểu biết đầy đủ về các ngành nghề đào tạo và thị trường lao động tăng rõ rệt.
    • Chuyển biến trong xu hướng đăng ký thi tốt nghiệp và chọn ngành: giảm tỷ lệ đăng ký cảm tính vào các trường ĐH tốp trên, gia tăng tỷ lệ học sinh định hướng vào học nghề, trung cấp chuyên nghiệp và các ngành dịch vụ phù hợp với năng lực cá nhân và nhu cầu phát triển kinh tế địa phương.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ bản chất khái niệm "Tổ chức giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần xã hội hóa" ở cấp THPT dưới góc độ khoa học Quản lý giáo dục.
  2. Xác lập cơ sở khoa học của việc xây dựng cơ cấu tổ chức, các nguyên tắc quản lý và cơ chế phối hợp liên ngành giữa nhà trường với các lực lượng xã hội trong công tác hướng nghiệp.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Phân tích bức tranh thực trạng GDHN và quản lý GDHN tại các trường THPT và trung tâm KTTH-HN ở hai tỉnh Quảng Trị, Hà Tĩnh; chỉ rõ các nguyên nhân quản lý dẫn đến sự yếu kém của công tác phân luồng học sinh.
  2. Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp quản lý đồng bộ có tính khả thi, được kiểm chứng qua khảo nghiệm và thử nghiệm thực tế tại các trường THPT ở Quảng Trị và Đà Nẵng.

Khuyến nghị của luận án

  • Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: Hoàn thiện chương trình GDHN và Công nghệ phân ban; ban hành quy chế về vị trí việc làm của cán bộ chuyên trách hướng nghiệp trong trường THPT; xây dựng cơ chế liên bộ (Giáo dục & Đào tạo - Lao động, Thương binh & Xã hội - Tài chính) trong phân luồng và dạy nghề.
  • Đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/thành phố: Thành lập Ban chỉ đạo GDHN - Phân luồng học sinh cấp tỉnh; ban hành chính sách ưu đãi, khuyến khích các doanh nghiệp trên địa bàn tham gia tiếp nhận học sinh thực tập và đầu tư CSVC cho hướng nghiệp.
  • Đối với Sở GD&ĐT và các trường THPT: Củng cố hoạt động của Ban Hướng nghiệp nhà trường; chủ động ký kết chương trình phối hợp với các trung tâm KTTH-HN, cơ sở sản xuất và Hội CMHS; đa dạng hóa các hình thức tư vấn nghề nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về thời gian và nguồn lực nghiên cứu, phạm vi khảo sát thực trạng của đề tài mới tập trung chủ yếu tại 2 địa bàn Bắc Trung Bộ (Quảng Trị và Hà Tĩnh); việc triển khai thử nghiệm giải pháp mới thực hiện ở phạm vi 6 trường THPT trong thời gian 1 năm học (2005 - 2006).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu và áp dụng mô hình tổ chức GDHN theo tinh thần XHH tại các vùng kinh tế trọng điểm, các khu đô thị lớn và khu vực nông thôn, miền núi có đặc thù kinh tế - xã hội khác nhau.
    • Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tài chính và chính sách thuế đối với các doanh nghiệp tham gia đầu tư vào hoạt động GDHN cho học sinh phổ thông.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo trong lĩnh vực Quản lý giáo dục và Giáo dục học:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục: Cung cấp khung phân tích lý luận về chức năng tổ chức trong quản lý nhà trường, phương pháp thiết kế bảng hỏi và quy trình thử nghiệm giải pháp quản lý giáo dục.
  • Đối với cán bộ quản lý giáo dục (Sở/Phòng GD&ĐT, Ban Giám hiệu trường THPT): Cung cấp các biểu mẫu, quy trình xây dựng Ban Hướng nghiệp và cơ chế phối hợp với các lực lượng xã hội tại địa phương.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng quy chế liên ngành trong công tác phân luồng học sinh sau THPT và chính sách xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định cấu trúc của công tác hướng nghiệp gồm những khâu nào?

Căn cứ Sơ đồ 1 trong văn bản, công tác hướng nghiệp là một hệ thống liên hoàn gồm 3 khâu có quan hệ mật thiết với nhau: Định hướng nghề (cung cấp thông tin nghề nghiệp, thị trường đào tạo cho học sinh và cha mẹ học sinh), Tư vấn nghề (đưa ra lời khuyên, hỗ trợ đối chiếu năng lực bản thân với yêu cầu nghề) và Tuyển chọn nghề (chọn người phù hợp với yêu cầu của từng ngành nghề cụ thể).

2. Theo luận án, năm nhóm giải pháp tổ chức GDHN theo tinh thần XHH gồm những nhóm nào?

Năm nhóm giải pháp gồm: (1) Nhóm giải pháp về Tổ chức nhận thức; (2) Nhóm giải pháp về Tổ chức nội dung; (3) Nhóm giải pháp về Cung ứng nhân lực; (4) Nhóm giải pháp về Cung ứng vật lực, tài lực; và (5) Nhóm giải pháp về Tổ chức cơ chế phối hợp.

3. Địa bàn khảo sát thực trạng và địa bàn thử nghiệm của đề tài được thực hiện ở đâu?

Khảo sát thực trạng được tiến hành tại 21 trường THPT và 14 trung tâm KTTH-HN thuộc 2 tỉnh Quảng Trị và Hà Tĩnh. Địa bàn thử nghiệm thực tế được triển khai tại 6 trường THPT thuộc tỉnh Quảng Trị và thành phố Đà Nẵng trong năm học 2005 - 2006.

4. Luận án đã nêu những chỉ tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nào của giai đoạn 2001 - 2010 tác động đến GDHN?

Luận án dẫn số liệu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội: tỷ trọng GDP nông nghiệp giảm từ 25,75% xuống 16 - 17%, công nghiệp tăng từ 33,35% lên 40 - 41%, dịch vụ tăng từ 41% lên 43%; tương ứng với lao động nông nghiệp giảm từ 76% xuống 50%, lao động công nghiệp và dịch vụ tăng từ 24% lên 50%; tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2005 là 24,8%.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Bùi Việt Phú đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT theo tinh thần xã hội hóa. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những bất cập trong mô hình GDHN khép kín trong nhà trường phổ thông, đồng thời khẳng định tính cần thiết của sự tham gia từ các lực lượng xã hội. Hệ thống năm nhóm giải pháp quản lý do tác giả đề xuất cung cấp các luận cứ khoa học và phương thức phối hợp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả phân luồng và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.