Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý sự liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục. - Chương 2: Thực trạng quản lý sự liên kết của trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục hiện nay. - Chương 3: Biện pháp quản lý sự liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục hiện nay. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỰ LIÊN KẾT CỦA TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VỚI CÁC LỰC LƢỢNG XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG MÔI TRƢỜNG GIÁO DỤC 1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.
Nghiên cứu ở nước ngoài J.Cômenxki (1592 - 1670) là một nhà sư phạm lỗi lạc của nhân loại người Tiệp Khắc, người đặt nền móng lý luận và hoạt động thực tiễn cho giáo dục của nền văn minh công nghiệp và đến nay những cống hiến của ông còn nguyên giá trị. Ông cho rằng, dạy học, giáo dục phải tuân theo quy luật của tự nhiên, vì con người là một thực thể của tự nhiên cũng giống như muôn loài cây cỏ muông thú. Tổ chức giáo dục phải dựa vào quy luật của tự nhiên thì trẻ em, con người mới phát triển, nếu không tuân theo quy luật tự nhiên thì giáo dục, con người không phát triển tốt được. Ông rất coi trọng môi trường giáo dục, tổ chức giáo dục, dạy học theo quy luật của tự nhiên, theo quy luật phát triển của trẻ.
Ông thường ví trẻ em như con khỉ con, chúng thích bắt chước vì vậy để việc giáo dục trẻ em được tốt thì phải xây dựng nhà trường thành môi trường thuận lợi cho trẻ học bắt chước, thầy giáo và những người xung quanh cần làm gương để tạo cho trẻ những ấn tượng tốt cho trẻ bắt chước. Ông cũng nhắc nhở trẻ em nhiều thói xấu từ nhỏ sau này sửa rất khó, ông ví chẳng khác gì lần đầu nồi mới đã nấu cơm khê thì cái nồi ấy sau này mùi khê còn ảnh hưởng dai dẳng mãi [69, tr.V Pavlov nghiên cứu sự hình thành phản xạ có điều kiện trong môi trường được kiểm soát chặt chẽ, con vật (con chó) hoàn toàn thụ động.F Skinnơ nghiên cứu sự hình thành phản xạ tạo môi trường gần với thực tế hơn, con vật (chuột, bồ câu.) chủ động trong hành vi đáp ứng trên cơ sở nhu cầu của nó. Nội dung học tập thể hiện ngay trong môi trường mà con vật phải tìm cách thích nghi.Từ kết quả nghiên cứu của hai ông, các nhà giáo dục học đã nhận thức được một vấn đề rất quan trọng rằng: Yếu tố môi trường trong giáo dục không chỉ góp phần quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người mà quan trọng hơn là yếu tố môi trường thực 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tế đã kích thích chủ thể (con người) hoạt động năng động và sáng tạo hơn. Việc tạo lập, xây dựng và phát triển môi trường giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng của khoa học giáo dục hiện đại.
So sánh qua hai mô hình thực nghiệm đã cho thấy: môi trường bị động và môi trường chủ động sẽ tác động quyết định đến năng lực hoạt động của con người. Điều đó luôn đúng với bất cứ hoạt động sống nào của con người từ khi còn nhỏ đến khi trưởng thành. Ở phạm vi rộng hay hẹp, hoạt động của con người sẽ không có hiệu quả nếu thiếu vắng yếu tố môi trường [76, tr.Makarenko (1888-1939), nhà sư phạm Xô Viết lỗi lạc đầu thế kỷ XX có ví nhà sư phạm như một người làm vườn tài ba, thông qua hoạt động giáo dục có thể tạo ra môi trường, có thể điều chỉnh sự phát triển nhân cách như người làm vườn điều chỉnh sự phát triển hạt giống và cây cảnh theo ý muốn của cá nhân. Nhưng không phải là áp đặt mà là tạo cơ hội, điều khiển sự phát triển nhân cách của trẻ em theo quy luật của sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em.
Sau nhiều năm làm công tác giáo dục và quản lý giáo dục ông đã rút ra một kết luận hoàn toàn đúng: không có khái niệm trẻ em hư hỏng mà chỉ do trẻ rơi vào một hoàn cảnh đặc biệt dẫn tới những sai lệch trong quá trình phát triển nhân cách. Ông đã nói vui "nếu tôi rơi vào hoàn cảnh như các em, tôi cũng sẽ như các em mà thôi". Nhà sư phạm tài ba là ở chỗ phát hiện đúng nguyên nhân, đặc điểm của trẻ tạo ra môi trường hoạt động thuận lợi, điều chỉnh những hoạt động tiêu cực thành những hoạt động tích cực, giúp trẻ phát triển những tiềm ẩn ở chúng. Ông cũng từng nhấn mạnh sự phát triển nhân cách của trẻ em không phải là sản phẩm của một cá nhân nhà sư phạm, mà đó là kết quả của toàn bộ những tác động của chế độ xã hội, của sự tác động tổng hoà các quan hệ xã hội mà mỗi người sống, hoạt động trong đó [81, tr.
Còn theo Các Mác thì: Môi trường giáo dục sinh ra trước hết là từ nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất, trong đấu tranh xã hội, trong phân phối sản phẩm để con người tồn tại và phát triển. Cùng với sự phát triển của sản xuất, các quan hệ xã hội, môi trường giáo dục cũng theo đó mà ngày càng phát triển, ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp. Môi trường giáo dục là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan, là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người. Những quan hệ người - người, cá nhân - xã hội càng có ý thức, tự giác, ý nghĩa và hiệu quả của chúng càng có tính chất xã hội rộng lớn thì hoạt 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động của con người càng có đạo đức.
Môi trường giáo dục “đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại” [14, tr. Trong cuốn “Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác” của hai tác giả Jean Marc Denommé & Madeleine Roy đã phân tích kỹ mô hình quen thuộc trong môi trường giảng dạy đó là: Người dạy - Người học - Tri thức được chuyển thành: Người dạy -Người học - Môi trường. Hai tác giả coi môi trường là yếu tố tham gia trực tiếp đến quá trình dạy học chứ không đơn thuần chỉ là nơi diễn ra hoạt động học. Đặc biệt, hai tác giả đi sâu vào các yếu tố môi trường của việc học, các yếu tố môi trường của việc dạy.
Trên cơ sở đó, các tác giả đã nhấn mạnh đến một quy luật quan trọng: môi trường ảnh hưởng đến người dạy, người học; người học và người dạy phải thích nghi với môi trường. Ảnh hưởng và thích nghi đó chính là hệ quả của phương pháp sư phạm tương tác liên quan đến môi trường [52, tr. Mary Parker Follet (1868 – 1933), bằng những quan sát trực tiếp hoạt động của người quản lý, Bà đi đến kết luận rằng sự phối hợp là điều kiện sống còn của sự quản lý hiệu quả. Bà đề xuất bốn nguyên tắc phối hợp mà người quản lý cần áp dụng đó là: (1) Sự phối hợp sẽ thành đạt nhất nếu những người chịu trách nhiệm ra quyết định có sự tiếp xúc trực tiếp với nhau; (2) Sự phối hợp ở những giai đoạn đầu của việc lập kế hoạch và triển khai dự án có một ý nghĩa quyết định; (3) Sự phối hợp phải chú ý tới mọi nhân tố trong một tình huống, hoàn cảnh cụ thể; (4) Sự phối hợp phải được duy trì liên tục [62, tr.
Nhiều nhà tâm lí học Mỹ với các công trình nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng rất quan trọng của môi trường đến sự hình thành nhân cách cá nhân. Những kết quả nghiên cứu có hệ thống đã dần hình thành một chuyên ngành tâm lí học mới: Tâm lí học môi trường và thường được khái quát trong các tài liệu Giáo dục học, Tâm lí học. Quan điểm chung của Khoa học giáo dục (bao gồm cả Tâm lí học) đều khẳng định vai trò quyết định của yếu tố môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Tiếp đó là vấn đề nghiên cứu, xây dựng môi trường với mục đích để có ảnh hưởng tốt nhất đến dạy học và giáo dục nhân cách thế hệ trẻ.
Đặc biệt là câu nói của nhà Xã hội học Mỹ R.E Pác-cơ: “người không đẻ ra người, đứa trẻ chỉ trở nên người trong quá trình giáo dục”. Điều này khẳng định vai trò của yếu tố môi trường văn hoá và giáo dục có tính quyết định đối với sự hình thành nhân cách con người [76, tr. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác giả Kathleen Cotton trong cuốn sách “Mối quan hệ trong nhà trường là những mối quan tâm lớn nhất” đã nghiên cứu về sự phối hợp của gia đình với nhà trường, bao gồm các hình thức khác nhau như: Cha mẹ có thể hỗ trợ việc học của con em mình bằng cách tham gia các môn học và đáp ứng các nghĩa vụ học tập, giúp đỡ con cái của họ, theo dõi bài tập về nhà, tích cực dạy kèm con ở nhà để cải thiện việc học; khuyến khích, tạo điều kiện về thời gian, không gian học thích hợp cũng như đáp ứng các mong muốn của con em mình. Tác giả cũng đã đưa ra những minh chứng rằng sự phối hợp của gia đình vào các hoạt động học tập của con em họ đã giúp các em đạt được thành tích cao hơn trong học tập.
Hơn nữa, các nghiên cứu cho thấy khi con em họ có kết quả học tập tốt hơn thì gia đình cũng tham gia mạnh mẽ hơn trong việc giúp đỡ con mình học tập [106]. Epstein trong cuốn "Trường học gia đình và sự cộng tác cộng đồng - cẩm nang cho hành động của bạn" đã đưa ra khái niệm về mối quan hệ phối hợp giữa Gia đình - Nhà trường - Xã hội như là những chiến lược hành động của gia đình, nhà trường và xã hội, giúp học sinh có được môi trường học tập và rèn luyện đạt kết quả cao nhất. Theo bà, sự tham gia của cộng đồng vào giáo dục học sinh là rất quan trọng bởi kết quả rèn luyện và học tập của học sinh đều phụ thuộc vào các yếu tố trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội [103]. Nghiên cứu ở trong nước Bác Hồ đã để lại cho chúng ta cả một kho tàng về triết lý nhân sinh, hành động vì nhân sinh, xây dựng môi trường giáo dục học sinh.