Tổng quan nghiên cứu
Giáo dục và đào tạo đóng vai trò là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội tại các địa bàn miền núi. Tỉnh Lạng Sơn có diện tích tự nhiên 8.305,2 km² với trên 80% là địa hình đồi núi, dân số hơn 739.000 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 83,5% (chủ yếu là dân tộc Nùng 42,97% và dân tộc Tày 35,92%). Tại huyện Văn Quan – một huyện vùng cao thuần nông còn nhiều khó khăn, toàn huyện chỉ có 2 trường Trung học phổ thông (THPT Lương Văn Tri và THPT Văn Quan) đảm nhận công tác giáo dục cho 2.334 học sinh phân bố trong 54 lớp học vào năm học 2009 - 2010.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực tế công tác xã hội hóa giáo dục (XHHGD) trên địa bàn còn mang tính tự phát, phân tán và nặng về huy động đóng góp tài chính thuần túy. Mục tiêu nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý xã hội hóa giáo dục cấp THPT tại huyện Văn Quan giai đoạn 2005 - 2010, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp quản lý đồng bộ, khả thi cho cán bộ quản lý và hiệu trưởng nhà trường. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại 2 trường THPT công lập của huyện Văn Quan dưới sự chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để gia tăng tỷ lệ huy động các nguồn lực xã hội ngoài ngân sách lên 30 - 35%, cải thiện tỷ lệ giáo viên/lớp đạt chuẩn 2,14 và tạo tiền đề vững chắc cho việc hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục trung học toàn tỉnh vào năm 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết xã hội hóa của các nhà xã hội học kinh điển như Emile Durkheim và Kron, khẳng định giáo dục vừa mang chức năng phân hóa vừa mang chức năng xã hội hóa nhằm tái sản xuất sức lao động và chuẩn mực xã hội. Bên cạnh đó, mô hình Quản lý dựa vào nhà trường (School-Based Management - SBM) từ các nền giáo dục phát triển được tiếp cận như một công cụ trao quyền tự chủ, tăng cường trách nhiệm giải trình và phát huy sự tham gia dân chủ của cộng đồng địa phương vào hoạt động trường học.
Các khái niệm chính được làm sáng tỏ gồm: Xã hội hóa giáo dục, Quản lý giáo dục THPT, Đa dạng hóa nguồn lực giáo dục, Phân luồng hướng nghiệp và Mối quan hệ phối hợp giữa ba môi trường (Gia đình - Nhà trường - Xã hội). Khung pháp lý của nghiên cứu căn cứ trực tiếp vào Luật Giáo dục, Nghị quyết số 90/NQ-CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa; Nghị định số 73/1999/NĐ-CP; Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP và Quyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Đề án Quy hoạch phát triển xã hội hóa giáo dục giai đoạn 2005 - 2010.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của đề tài kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo thống kê của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn, UBND huyện Văn Quan giai đoạn 2005 - 2010 và dữ liệu sơ cấp thông qua khảo sát thực địa. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 320 khách thể, bao gồm 20 cán bộ quản lý (thuộc Sở GD&ĐT tỉnh Lạng Sơn và Ban Giám hiệu 2 trường THPT), 100 giáo viên trực tiếp giảng dạy và 200 cha mẹ học sinh trên địa bàn huyện Văn Quan.
Phương pháp chọn mẫu kết hợp giữa chọn mẫu phân tầng theo vị trí công tác và chọn mẫu ngẫu nhiên đối với phụ huynh học sinh nhằm đảm bảo tính đại diện cao. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả (tính tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình) bằng công cụ phần mềm thống kê để định lượng hóa mức độ nhận thức và mức độ thực hiện các nội dung xã hội hóa. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính và phương pháp chuyên gia là nhằm đo lường chính xác thực trạng, đồng thời kiểm định độ tin cậy về tính cấp thiết và tính khả thi của các nhóm giải pháp được đề xuất trong bối cảnh đặc thù của một huyện miền núi nghèo.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, cơ cấu mạng lưới trường lớp THPT tại huyện Văn Quan hoàn toàn mang tính đơn nhất khi 100% quy mô học sinh đều thuộc hệ thống trường công lập. Năm học 2009 - 2010, toàn huyện có 2 trường THPT với 54 lớp học và 2.334 học sinh (THPT Lương Văn Tri có 29 lớp với 1.234 học sinh; THPT Văn Quan có 25 lớp với 1.100 học sinh), tỷ lệ giáo viên/lớp đạt 2,14 với tổng số 116 giáo viên (trong đó có 107 cán bộ giáo viên thuộc biên chế nhà nước). Toàn huyện hoàn toàn chưa có cơ sở giáo dục ngoài công lập, đạt tỷ lệ 0% về loại hình tư thục hoặc dân lập.
Thứ hai, nhận thức về bản chất của công tác xã hội hóa giáo dục trong cộng đồng còn tồn tại khoảng cách lớn. Kết quả khảo sát cho thấy có 68,5% cha mẹ học sinh và 41,2% cán bộ giáo viên vẫn đồng nhất khái niệm xã hội hóa giáo dục với việc đóng góp tài chính, tiền của để xây dựng trường lớp; chỉ có khoảng 31,5% phụ huynh nhận thức đầy đủ về quyền và trách nhiệm tham gia giám sát chất lượng cũng như phối hợp giáo dục đạo đức cho con em.
Thứ ba, nguồn lực huy động ngoài ngân sách nhà nước còn chiếm tỷ trọng khiêm tốn, chỉ đáp ứng khoảng 15% đến 18% tổng nhu cầu kinh phí hoạt động và tăng cường cơ sở vật chất của các nhà trường. Ngân sách nhà nước cấp phát vẫn phải gánh vác hơn 82% tổng chi phí giáo dục thường xuyên và xây dựng cơ bản.
Thứ tư, hiệu quả phân luồng sau tốt nghiệp THPT còn nhiều hạn chế. Thống kê giai đoạn 2009 - 2010 cho thấy tỷ lệ học sinh đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng chỉ dao động từ 22% đến 28%; trong khi đó có hơn 60% học sinh tốt nghiệp THPT không tham gia học nghề hoặc gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm ổn định ngay tại địa phương.
Thảo luận kết quả
Thực trạng trên bắt nguồn từ những nguyên nhân nội tại và ngoại cảnh rõ rệt. Về mặt kinh tế, huyện Văn Quan có điểm xuất phát thấp, công nghiệp chưa phát triển, nguồn thu nhập chính của hơn 80% hộ gia đình phụ thuộc vào sản xuất nông - lâm nghiệp tự cấp tự túc. Về mặt tư tưởng, tâm lý bao cấp và trông chờ vào sự đài thọ của Nhà nước vẫn còn in sâu trong nếp nghĩ của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số. Cơ chế phối hợp liên ngành giữa ngành giáo dục với các đoàn thể (Đoàn Thanh niên, Hội Khuyến học, Hội Phụ nữ) chưa được thể chế hóa thành quy chế làm việc định kỳ.
Khi so sánh với các nghiên cứu tại địa bàn trung du miền núi lân cận như huyện Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang) hay huyện Lục Nam (tỉnh Bắc Giang), kết quả nghiên cứu tại huyện Văn Quan thể hiện nét tương đồng sâu sắc về tính tự phát trong quản lý và sự mất cân đối trong cơ cấu huy động nguồn lực. Để minh chứng trực quan, dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn thông qua biểu đồ cột so sánh mức độ nhận thức của 3 nhóm đối tượng (cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh) và bảng cân đối cơ cấu nguồn vốn tài chính (phân tách rõ tỷ lệ chi từ ngân sách nhà nước so với các nguồn đóng góp xã hội hóa giai đoạn 2007 - 2010). Các bảng dữ liệu này khẳng định rằng việc mở rộng nguồn lực giáo dục miền núi không thể chỉ trông chờ vào nguồn lực tài chính thuần túy mà bắt buộc phải chuyển dịch sang đa dạng hóa nguồn lực trí tuệ, nhân công và môi trường xã hội.
Đề xuất và khuyến nghị
Để tạo ra bước chuyển biến căn bản trong công tác xã hội hóa giáo dục THPT tại huyện Văn Quan, luận văn xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp quản lý trọng tâm:
-
Đổi mới công tác truyền thông và nâng cao nhận thức: Ban Giám hiệu các trường THPT chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Huyện ủy và Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện triển khai các đợt sinh hoạt chuyên đề về chủ trương XHHGD. Mục tiêu nâng tỷ lệ hiểu đúng và đồng thuận về bản chất XHHGD của cán bộ, giáo viên lên 100% và của cha mẹ học sinh lên trên 85% trong giai đoạn 2011 - 2013.
-
Thể chế hóa cơ chế phối hợp ba môi trường giáo dục: Xây dựng quy chế phối hợp bằng văn bản giữa Nhà trường, Ban đại diện cha mẹ học sinh và chính quyền 24 xã, thị trấn. Mục tiêu duy trì 100% các lớp có Ban đại diện cha mẹ học sinh hoạt động hiệu quả theo đúng Điều lệ, tổ chức định kỳ 4 diễn đàn chuyên đề mỗi năm về giáo dục kỹ năng sống, an toàn giao thông và phòng chống tệ nạn xã hội trong giai đoạn 2011 - 2014 do Hiệu trưởng và Đoàn Thanh niên thực hiện.
-
Đa dạng hóa nguồn lực đầu tư và công khai hóa tài chính: Hiệu trưởng các trường THPT phối hợp chặt chẽ với Hội Khuyến học huyện Văn Quan, các tổ chức doanh nghiệp và cựu học sinh thành đạt để thành lập các quỹ học bổng khuyến tài, đồng thời huy động ngày công lao động tu sửa trường lớp. Mục tiêu tăng tỷ trọng nguồn lực xã hội hóa hỗ trợ cơ sở vật chất trường học lên 30% tổng nguồn kinh phí phát triển vào giai đoạn 2012 - 2015 dưới sự giám sát minh bạch của Hội đồng trường.
-
Đẩy mạnh công tác phân luồng và liên kết giáo dục nghề nghiệp: Ban Giám hiệu phối hợp với Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện Văn Quan và các trường trung cấp nghề trong tỉnh tổ chức tư vấn hướng nghiệp từ lớp 10. Mục tiêu giảm tỷ lệ học sinh thất nghiệp sau khi tốt nghiệp THPT xuống dưới 20% và nâng tỷ lệ học sinh tham gia học nghề sau lớp 12 lên trên 40% trong lộ trình 2012 - 2015.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:
- Cán bộ quản lý giáo dục và Hiệu trưởng các trường THPT: Cung cấp khung năng lực và quy trình quản lý thực tế để triển khai công tác XHHGD tại các trường phổ thông vùng khó khăn; vận dụng trong việc xây dựng đề án chiến lược phát triển nhà trường và huy động tài trợ hợp pháp.
- Lãnh đạo cấp ủy, HĐND và UBND các cấp: Nắm bắt thực trạng cụ thể của mạng lưới trường lớp để ban hành các nghị quyết chuyên đề, bố trí quỹ đất sạch và hoạch định chính sách an sinh giáo dục hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số tại các huyện vùng cao.
- Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý giáo dục: Sử dụng tài liệu như một công trình tham khảo điển hình về phương pháp khảo sát thực chứng, thiết kế bảng hỏi và xử lý dữ liệu định lượng trong đánh giá chính sách giáo dục địa phương.
- Ban đại diện cha mẹ học sinh và các tổ chức đoàn thể xã hội: Hiểu rõ cơ sở pháp lý và quyền hạn của mình để tham gia tích cực, bình đẳng vào việc giám sát sư phạm, đóng góp ý kiến xây dựng cảnh quan và kiến tạo môi trường học đường lành mạnh cho học sinh.
Câu hỏi thường gặp
Xã hội hóa giáo dục THPT tại huyện miền núi có phải là việc chuyển gánh nặng tài chính sang cho phụ huynh học sinh?
Hoàn toàn không. Bản chất của XHHGD theo Nghị quyết 90/NQ-CP và các văn kiện của Đảng là huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia làm giáo dục, xây dựng môi trường lành mạnh và mở rộng cơ hội học tập. Việc huy động tài chính chỉ là một phần nhỏ và bắt buộc phải dựa trên nguyên tắc tự nguyện, minh bạch, phù hợp với mức sống của địa phương.
Làm thế nào để huy động nguồn lực xã hội hiệu quả tại một địa bàn nghèo như huyện Văn Quan?
Tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 83,5%, các trường THPT cần tập trung huy động các nguồn lực phi tài chính như ngày công lao động cải tạo sân bãi, hiến đất mở rộng trường lớp, vật liệu địa phương và phát huy truyền thống hiếu học của dòng họ. Đồng thời, nhà trường cần tranh thủ sự hỗ trợ của các hội đồng hương và doanh nghiệp ngoài địa bàn.
Tại sao huyện Văn Quan duy trì 100% loại hình trường THPT công lập mà chưa phát triển trường ngoài công lập?
Trong năm học 2009 - 2010, với 2.334 học sinh phân bổ tại 2 trường THPT trên địa bàn đồi núi rộng lớn, điều kiện kinh tế của người dân còn thấp nên việc thành lập trường dân lập hay tư thục chưa đủ điều kiện tự chủ tài chính. Nhà nước bắt buộc phải giữ vai trò chủ đạo để bảo đảm quyền học tập công bằng cho con em đồng bào các dân tộc.
Tính khả thi của các giải pháp quản lý trong luận văn được kiểm chứng qua công cụ nào?
Hệ thống giải pháp đã được khảo sát trực tiếp lấy ý kiến đánh giá từ 320 cán bộ quản lý, giáo viên và chuyên gia giáo dục thuộc tỉnh Lạng Sơn. Kết quả phân tích thống kê toán học qua thang đo mức độ cho thấy điểm số trung bình về cả tính cấp thiết lẫn tính khả thi của các giải pháp đều đạt mức cao và rất cao.
Cơ chế phối hợp giữa Nhà trường - Gia đình - Xã hội cần làm gì để tránh hình thức?
Nhà trường phải chủ động ký kết chương trình phối hợp hành động cụ thể hàng năm với UBND các xã và các tổ chức đoàn thể; định kỳ báo cáo công khai kết quả giáo dục, lắng nghe phản hồi của cộng đồng và gắn trách nhiệm của cán bộ cơ sở với việc theo dõi, duy trì sĩ số học sinh trên từng địa bàn thôn bản.
Kết luận
- Luận văn đã luận giải sâu sắc tính tất yếu khách quan và bản chất nhân văn của công tác xã hội hóa giáo dục THPT tại địa bàn miền núi khó khăn.
- Khái quát và hệ thống hóa toàn diện khung lý thuyết về mô hình Quản lý dựa vào nhà trường (SBM) cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục.
- Đánh giá thực chứng bức tranh giáo dục THPT huyện Văn Quan giai đoạn 2005 - 2010 tại 2 trường công lập với quy mô 54 lớp và 2.334 học sinh, chỉ rõ những khoảng trống trong nhận thức và cơ chế phối hợp.
- Đề xuất 4 nhóm giải pháp quản lý có tính hệ thống, khả thi, gắn liền với các mốc thời gian và chủ thể thực hiện rõ ràng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
- Đóng góp luận cứ khoa học trực tiếp hỗ trợ ngành giáo dục tỉnh Lạng Sơn hoàn thành thắng lợi mục tiêu phổ cập giáo dục trung học đến năm 2015.
Theo lộ trình thực hiện từ năm 2011 đến năm 2015, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và đội ngũ cán bộ quản lý trường học cần nhanh chóng đưa các nhóm giải pháp vào kế hoạch năm học. Hãy cùng chung tay tạo lập một môi trường giáo dục mở, dân chủ và gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội vì sự phát triển bền vững của thế hệ trẻ quê hương Văn Quan.