PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: Một số vấn đề về dạy học phân hóa Chƣơng 2: Tổ chức dạy học bài Từ ngữ tiếng Việt cho học sinh trƣờng Dự bị Đại học Dân tộc Trung ƣơng theo hƣớng phân hóa Chƣơng 3: Thự nghiệm sƣ phạm PHẦN KẾT LUẬN 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DẠY HỌC PHÂN HÓA 1. Quan điểm dạy học phân hóa Gibson (2010) đã viết: “DHPH không phải là một xu hướng dạy học mới và cũng không phải là một quan niệm mới về dạy học”. Quả thật, phân hóa trong giáo dục là một đòi hỏi khách quan, do đó dù ở mức độ nào đi nữa thì sự phân hóa trong giáo dục cũng đã diễn ra từ lâu trên thế giới. Tuy nhiên thuật ngữ DHPH mới bắt đầu xuất hiện từ những năm 70 của thế kỉ XX do nhà giáo dục ngƣời Pháp Louis Legrand đƣa ra.
Theo Louis Legand thì vấn đề quan trọng không phải là kiến thức có sẵn đƣa vào môn học trong chƣơng trình nhà trƣờng mà chính là năng lực của từng học sinh nhƣ thế nào trƣớc khối lƣợng kiến thức đƣợc cập nhật đƣợc thông qua các hoạt động của chủ thể. Tiếp theo Louis Legrand là hàng loạt các quan điểm của các nhà nghiên cứu giáo dục trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam về dạy học phân hóa. Theo Carol Tomlinson bà cho rằng “Phân hóa là một cách dạy học mà theo đó giáo viên tích cực thay đổi hoặc điều chỉnh chương trình, phương pháp giảng dạy, các nguồn lực, hoạt động học và những sản phẩm của học sinh để đáp ứng nhu cầu của cá nhân học sinh”. DHPH ở đây không phải là một phƣơng pháp mà là một chiến lƣợc dạy học và điểm mấu chốt là làm thế nào để đáp ứng đƣợc nhu cầu đa dạng của học sinh.
Theo Tracey Hall: “Dạy học phân hóa là lí thuyết giảng dạy dựa trên mệnh đề là các cách tiếp cận giảng dạy cần phải đa dạng và thích nghi với sự đa dạng của HS trong lớp học”. Theo quan điểm này giáo viên linh hoạt trong cách tiếp cận của mình đối với việc giảng dạy, điều chỉnh chƣơng trình và truyền đạt thông tin cho ngƣời học. Theo tác giả Tôn Thân: “DHPH là một quan điểm dạy học đòi hỏi phải tổ chức, tiến hành các hoạt động dạy học dựa trên những khác biệt của người 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học về năng lực, sở thích, nhu cầu, điều kiện học tập nhằm tạo ra những kết quả học tập tốt nhất và sự phát triển tốt nhất cho từng người học, chứ không tiến hành giảng dạy chung chung. Đó là chiến lược dạy học dựa và sự khác biệt giữa cá nhân và nhóm người học”.
Tác giả Đặng Thành Hƣng thì cho rằng: “Dạy học phân hóa (Differenciated Instruction) được hiểu là quá trình dạy học có phân biệt những người học hay nhóm người học, chứ không tiến hành giảng dạy chung chung. Đó là chiến lược dạy học dựa vào sự khác biệt cá nhân và nhóm người học”. Nguyễn Bá Kim lại đƣa ra quan điểm: “DHPH xuất phát từ sự biện chứng của thống nhất và phân hóa, từ yêu cầu đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu dạy học đối với tất cả mọi học sinh, đồng thời khuyến khích phát triển tối đa và tối ưu những khả năng của cá nhân”. Tóm lại, từ những quan điểm của các tác giả trong và ngoài nƣớc đã tìm hiểu, chúng tôi cho rằng: DHPH là một quan điểm dạy học đòi hỏi phải tổ chức, tiến hành các hoạt động dạy học dựa trên những khác biệt của ngƣời học về năng lực, sở thích, nguyện vọng, các điều kiện học tập,… nhằm tạo ra những kết quả học tập và cơ hội phát triển tốt nhất cho từng ngƣời học, đảm bảo công bằng trong giáo dục.
DHPH là một nguyên tắc dạy học nhằm phát triển tối ƣu các tính cách và năng lực cá nhân của ngƣời học để phục vụ tốt nhất cho yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội. DHPH đã và đang đƣợc thực hiện trong nền giáo dục nƣớc ta ở những quy mô, hình thức, biện pháp khác nhau; đó là cơ sở để hình thành những phƣơng pháp giáo dục và dạy học mới phù hợp với xu thế dạy học hiện đại chung của thế giới. Cơ sở phƣơng pháp luận của dạy học phân hóa 1. Cơ sở tâm lí học Cơ sở tâm lí học của dạy học DHPH xuất phát từ những khác biệt đáng kể giữa cá nhân về phƣơng thức cảm nhận, phƣơng thức tƣ duy, phƣơng thức 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biểu đạt tình cảm, đặc trƣng tính cách, đặc điểm động cơ, đặc điểm hứng thú.
Những khác biệt này tạo nên sự phong phú đa dạng của cuộc sống xã hội, đồng thời còn là những cơ sở quan trọng đêt tiến hành phân hóa trong giáo dục. * Lí thuyết phát triển nhận thức: Nhà tâm lí học Jean Piaget ngƣời Thụy Sĩ cho rằng quá trình phát triển nhận thức của con ngƣời phải trải qua 4 giai đoạn và trong đó giai đoạn từ khi trẻ 11 tuổi trở lên là giai đoạn trẻ đã biết sử dụng phép logic để tƣ duy và mọi trẻ em đều trải qua một trình tự giống nhau có tốc độ khác nhau và thừa nhận những khác biệt cá nhân phát triển. Do đó GV nên thiết kế hoạt động trong lớp học theo nhóm nhỏ hơn là cho cả lớp. * Thuyết về vùng phát triển gần nhất: Theo L.Vygotsky trong quá trình phát triển tâm lí của HS diễn ra ở hai mức độ: vùng phát triển hiện tại và vùng phát triển gần nhất.
Vùng phát triển gần nhất là vùng thể hiện các chức năng tâm lí đang trƣởng thành nhƣng chƣa chín muồi. Ở mức độ này HS chƣa tự mình thực hiện đƣợc nhiệm vụ mà chỉ thực hiện đƣợc khi có sự hợp tác, giúp đỡ của ngƣời khác để sau đó tự mình thực hiện đƣợc nhiệm vụ tƣơng ứng. Từ đó, Vygotsky chỉ ra rằng HS khác nhau không chỉ ở giai đoạn phát triển mà còn khác nhau trong vùng phát triển gần nhất. Do vậy dạy học phải đi trƣớc quá trình phát triển để tạo ra vùng phát triển gần nhất, là điều kiện để bộc lộ sự phát triển, đòi hỏi GV phải có các chiến lƣợc dạy học phù hợp với từng đối tƣợng HS nhằm phát huy tối đa khả năng học tập của các em.
* Thuyết về đa trí tuệ: Năm 1983, tiến sĩ Howard Garder - một nhà tâm lí học của đại học Harvard, đã công bố nghiên cứu của mình về sự đa dạng của trí tuệ con ngƣời và đề cập đến sự tồn tại của ít nhất là 7 dạng trí tuệ gồm: trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ logic – toán học, trí tuệ hình thể - động năng, trí tuệ không gian, trí tuệ giao tiếp và trí tuệ nội tâm. Năm 1999, ông bổ sung thêm hai loại 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trí tuệ là trí tuệ tự nhiên và trí tuệ sinh tồn. Lí thuyết đa trí tuệ chỉ ra rằng mỗi ngƣời trong chúng ta đều tồn tại một vài dạng trí tuệ hoặc tất cả các dạng trí tuệ trên, nhƣng sẽ có kiểu trí tuệ trội hơn trong mỗi ngƣời và đa số chúng ta có thể phát triển mỗi dạng trí tuệ tới một mức độ thích đáng. Thuyết đa trí tuệ đã mang đến một cái nhìn nhân bản và cần thiết, kêu gọi nhà trƣờng và GV coi trọng sự đa dạng về trí tuệ ở mối HS: mỗi loại trí tuệ đều quan trọng và mỗi HS đều có ít nhiều khả năng theo nhiều hƣớng khác nhau.
Nhà trƣờng phải là nơi giúp đỡ, khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện học tập theo các hƣớng khác nhau cho các chủ nhân tƣơng lai của xã hội. Làm đƣợc điều đó, chúng ta sẽ giúp mỗi HS tỏa sáng và thành công. * Thuyết về phong cách học tập Thuyết về phong cách học tập đã đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu từ những năm 1960 với nhiều mô hình khác nhau nhƣng đều hƣớng đến các nội dung sau: - Phong cách học tập là những đặc điểm riêng của cá nhân, tƣơng đối bền vững, bao gồm các đặc điểm về nhận thức, cảm xúc, sinh lí. - Phong cách học tập chỉ ra cách thức ƣu thế của cá nhân tiếp nhận, xử lí và lƣu trữ thông tin trong môi trƣờng học tập.
Một trong những mô hình phổ biến nhất hiện nay về phong cách học tập là mô hình của Neil Fleming. Mô hình này chia phong cách học tập của HS ra thành 4 nhóm chính: Ngƣời học theo kiểu nhìn/ thị giác, ngƣời học theo kiểu nghe/ thính giác, ngƣời học theo kiểu đọc/ viết, ngƣời học theo phƣơng pháp vận động/ xúc giác. Từ đó cho thấy GV cần xác định phong cách học tập của HS để phát huy điểm mạnh của từng cá nhân và làm tăng hứng thú học tập của học. Cơ sở giáo dục học Xét dƣới góc độ GD học, chức năng cuối cùng của GD xét đến cùng là chức năng phát triển.
GD giúp mỗi cá nhân phát triển và trên cơ sở đó tạo động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Mục tiêu của GD, dù ở phƣơng Đông hay 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phƣơng Tây, dù ở thời đại nào cũng đều nhất quán nguyên tắc “tính phù hợp” đối tƣợng cho các hoạt động dạy học và GD. Nguyên tắc này thể hiện rõ tƣ tƣởng về DHPH và đƣợc phát biểu khá nhất quán: Đảm bảo tính vừa sức, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi; đảm bảo sự thống nhất giữa đồng loạt và phân hóa. Mỗi ngƣời học đều có phẩm chất tâm lí, có những hoàn cảnh sống, ƣớc mơ hoài bão, sức khỏe, trình độ, trí thông minh, có phong cách học tập khác nhau nên họ khác nhau.
Việc học đích thực chỉ có thể tiến hành với những ngƣời học cụ thể, tức là với những nhân tố phân hóa cá nhân. Trong dạy học, nếu biết tôn trọng những nét khác biệt đó và tiến hành dạy học theo năng lực của HS thì có thể thu hẹp sự khác biệt về năng lực tiếp thu và vận dụng tri thức mới. DHPH là dạy học quan tâm đến sự khác biệt của HS, yêu mến HS, tin tƣởng HS trong quá trình lên lớp của mỗi GV. DHPH đƣợc xem nhƣ một phƣơng pháp tiếp cận dạy và học chủ động.
Mô hình DHPH đòi hỏi GV phải thay đổi, điều chỉnh kế hoạch giảng dạy, nội dung dạy học và các yếu tố khác cho phù hợp với nhu cầu HS thay vì trông chờ HS thay đổi cho phù hợp với nội dung dạy học. Khi tiến hành DHPH, ban đầu có vẻ nhƣ HS là ngƣời điều khiển QTDH.