Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN HÌNH HỌC CAO CẤP CHO SINH VIÊN NGÀNH SƯ PHẠM TOÁN HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC THEO PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO TÍN CHỈ 1. Một số vấn đề lý luận về dạy học đại học 1. Quá trình dạy học đại học 1. Quá trình dạy học Trong sự phát triển của giáo dục và nhà trường, dạy học tồn tại như một hiện tượng xã hội đặc biệt, một quá trình hoạt động phối hợp giữa người dạy và người học.
Quá trình dạy học là một quá trình phức tạp, rộng lớn và bao gồm nhiều thành tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Nếu quan sát bề ngoài, quá trình dạy học gồm ba yếu tố: nội dung dạy học, hoạt động của người thầy và hoạt động của trò. Nếu xét về mặt nội dung, quá trình dạy học được tạo thành từ các yếu tố: mục đích, nội dung, thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học, phương tiện, kết quả. Hai hoạt động cơ bản của quá trình dạy học bao gồm hoạt động dạy (hoạt động tổ chức, hướng dẫn của GV) và hoạt động học (hoạt động tự tổ chức, tự điều khiển của SV), hai hoạt động này phản ánh tính hai mặt của quá trình dạy học, chúng thống nhất biện chứng với nhau và quan hệ hữu cơ với nhau tạo thành một hoạt động kép, diễn ra theo một quá trình.
Tùy theo quan điểm tiếp cận về hoạt động dạy và học, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về quá trình dạy học được đưa ra bởi các nhà lý luận dạy học: Theo Nguyễn Hữu Châu: “Quá trình dạy học về bản chất là quá trình thực hiện một cách có tổ chức các hoạt động sư phạm cụ thể theo các quy định của chương trình dạy học, nhằm đạt được các mục tiêu dạy học là phát triển toàn diện người học về các mặt: kiến trức, kỹ năng, các giá trị. Quá trình này được thực hiện dựa vào mối quan hệ tương tác giữa người dạy, người học trong những môi trường sư phạm cụ thể” [19, tr. Theo Phan Trọng Ngọ: “Quá trình dạy học là chuỗi liên tiếp các hành động dạy và hành động của người dạy và người học đan xen và tương tác với nhau trong khoảng không gian và thời gian nhất định nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học” [60, tr. Theo Hà Thế Ngữ, đây là một quá trình sư phạm toàn vẹn, có chức năng và nhiệm vụ là nắm tri thức khoa học một cách tự giác, vững chắc và có hệ thống.
Hình thức tổ chức và loại hình hoạt động của quá trình dạy học là việc học theo bài trên lớp, trong đó hoạt động nhận thức - học tập chiếm phần lớn thời gian [63, tr. Sự tương tác giữa các nhân tố chính là quy luật phủ định biện chứng để tạo 9 nên sự thống nhất giữa dạy và học. Các hoạt động này tương tác, thâm nhập vào nhau nhằm đạt được mục đích dạy học và qua đó phát triển nhân cách của người học. Nếu trừu xuất đặc tính riêng của các quá trình dạy học cụ thể, chỉ xét cấu trúc của chúng ở dạng đơn giản nhất thì một quá trình dạy học gồm các yếu tố: mục đích, nội dung dạy học, các hoạt động dạy - học, kết quả học tập.
Quá trình dạy học đại học Quá trình dạy học nói chung, quá trình dạy học ở trường ĐH nói riêng là một quá trình phức tạp, bao gồm nhiều thành tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Tùy theo quan điểm tiếp cận về hoạt động dạy và học, các nhà lý luận dạy đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về quá trình dạy học đại học (QTDHĐH). Theo Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức: “Quá trình dạy học ở đại học, về bản chất, là quá trình nhận thức độc đáo có tính chất nghiên cứu của sinh viên được tiến hành dưới vai trò tổ chức, điều khiển của giáo viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học ở đại học. Nếu xét QTDHĐH như là một hệ thống thì theo Lưu Xuân Mới: “Quá trình dạy học đại học là một hệ thống toàn vẹn, cân bằng động gồm ba thành tố cơ bản: khái niệm khoa học (tri thức), dạy và học.
Những thành tố này tương tác với nhau theo một quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để thực hiện các nhiệm vụ dạy - học nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả dạy học” [54, tr. QTDHĐH được đặc trưng bởi hoạt động nhận thức của SV, một mặt thực hiện nhiệm vụ nắm những chân lý có sẵn liên quan tới nghề nghiệp tương lai của mình, mặt khác dần dần tham gia vào quá trình tìm ra chân lý mới trong lĩnh vực nghề nghiệp, tức là phải tiến hành hoạt động nghiên cứu khoa học từ thấp đến cao [5, tr. Trong luận án này chúng tôi thống nhất với quan điểm: QTDHĐH là một quá trình đào tạo nghề ở trình độ cao nhằm đào tạo các chuyên gia tương lai của một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định. Có thể coi đó là một hệ thống cân bằng động gồm ba thành tố quan trọng nhất: tri thức khoa học, hoạt động dạy, hoạt động học.
Các thành tố này tương tác qua lại với nhau, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để cùng thực hiện nhiệm vụ của dạy - học. Trong quá trình đó GV không chỉ truyền thụ tri thức mà quan trọng hơn là người đóng vai trò tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động NCKH làm cho người học (SV) phát huy hết tiềm năng của bản thân và học cách sáng tạo để chiếm lĩnh tri thức khoa học. Hoạt động dạy học đại học a) Hoạt động dạy Hoạt động dạy. Theo từ điển giáo dục [32]: Dạy là truyền lại những kiến thức, kinh nghiệm, đưa đến những thông tin khoa học cho người khác tiếp thu một cách có hệ thống, có phương pháp nhằm mục đích tự nâng cao trình độ văn hóa, năng lực trí tuệ và kỹ năng thực hành trong đời sống thực tế.29]: Dạy theo phương thức nhà trường là sự truyền thụ những tri thức khoa học, những kỹ năng và phương pháp hành động, thông qua hoạt động chuyên biệt của xã hội: hoạt động dạy.
Từ các định nghĩa trên, có thể cho rằng hoạt động dạy có các tính chất sau: - Hoạt động dạy là một quá trình truyền thụ, tổ chức nhận thức kiến thức, kinh nghiệm xã hội và nghề nghiệp cho người học nhằm hình thành và phát triển nhân cách nói chung và nhân cách nghề nghiệp nói riêng. - Hoạt động dạy là một mặt của quá trình dạy học do người giáo viên thực hiện theo nội dung, chương trình đào tạo đã định nhằm giúp người học đạt được các mục tiêu học tập theo từng bài học hoặc từng khóa đào tạo. Hoạt động dạy học không chỉ hướng đến yêu cầu truyền thụ kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp đúng đắn ở người học mà còn góp phần phát triển tính tích cực và tổ chức các hoạt động học tập của học sinh. Hoạt động dạy của GV ([35], [54, tr.
Ở ĐH, GV với hoạt động dạy có chức năng tổ chức, điều khiển, lãnh đạo hoạt động của SV, đảm bảo cho SV thực hiện đầy đủ và có chất lượng cao những yêu cầu đã được quy định phù hợp với mục đích dạy học ở ĐH. Dạy học ở ĐH cần trang bị cho SV những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng về một lĩnh vực khoa học, kỹ thuật nhất định ở trình độ hiện đại để sau khi ra trường họ có kỹ năng lập nghiệp. b) Hoạt động học Hoạt động học. Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động học tập, tuy nhiên chưa có sự thống nhất hoàn toàn trong các quan niệm.
Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những giá trị, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định. Trong Học phương pháp học (Learning How to learn), tác giả Robert M. Smith cho rằng: “Học tập là hoạt động của một người tiếp thu kiến thức. Nó có thể có chủ ý hay chỉ là sự tình cờ ngẫu nhiên, nó bao gồm việc thu thập thông tin, kỹ năng, thái độ, hiểu biết hay giá trị mới.
Nó thường đi kèm với những thay đổi về cách ứng xử và liên tục diễn ra trong suốt cuộc đời. Học tập thường được coi như vừa là quá trình, vừa là kết quả” (theo [72, tr. Theo Từ điển tiếng Việt [68, tr. 437]: Học là thu nhận kiến thức, luyện tập kỹ năng do người khác truyền lại.
Theo Phan Trọng Ngọ: “Học là quá trình tương tác giữa cá thể với môi trường, kết quả là dẫn tới sự biến đổi bền vững về nhận thức, thái độ hay hành vi của cá thể đó” [60, tr.15]; và “Con người có thể học bằng nhiều phương thức khác nhau: học ngẫu nhiên, học kết hợp và học tập” [60, tr. Tuy nhiên, nếu việc học 11 xuất phát từ nhu cầu của cá nhân, được thực hiện một cách có chủ ý với mục đích định trước và được triển khai bởi một hoạt động đặc thù - hoạt động học - thì thường được gọi đó là học tập. Trong luận án này chúng tôi thống nhất với quan điểm: “Học tập là việc học có chủ ý, có mục đích trước được tiến hành bởi một hoạt động đặc thù - hoạt động học, nhằm thỏa mãn nhu cầu học của cá nhân” [60, tr. Và “Hoạt động học là hoạt động đặc thù của của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định, những giá trị” [37, tr.
Hoạt động học của SV. Theo Nguyễn Thạc - Phạm Thành Nghị: “Hoạt động học tập ở đại học là một hoạt động tâm lí được tổ chức một cách độc đáo của sinh viên nhằm mục đích có ý thức là chuẩn bị trở thành người chuyên gia phát triển toàn diện sáng tạo và có trình độ nghiệp vụ cao” [80, tr. Hoạt động học tập nói đến ở đây có sự căng thẳng mạnh mẽ về trí tuệ và trong quá trình hoạt động đó các mục đích cơ bản của việc đào tạo người chuyên gia được thực hiện. Hoạt động này có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của các quá trình và các thuộc tính tâm lý của SV, đến sự lĩnh hội tri thức khoa học, các thông tin, các kỹ năng và kỹ xảo nghề nghiệp.