Chương 1: Cơ sở lý luận tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ Chương 2: Thực trạng đào tạo và tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ đối với các môn chung trong chương trình đào tạo sau đại học ở Đại học Quốc gia Hà Nội Chương 3: Các biện pháp tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ đối với các môn chung trong chương trình đào tạo sau đại học ở Đại học Quốc gia Hà Nội. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Tín chỉ là một phương thức đào tạo tỏ ra có nhiều ưu thế so với các phương thức đào tạo truyền thống. Ở Việt Nam trước đây đã có một số trường đại học chủ động áp dụng phương thức đào tạo tiên tiến này. Tuy nhiên, do tính toán chưa kỹ, chưa có những bước đi phù hợp và nhất là chưa lường trước được những khó khăn có thể nảy sinh trong quá trình áp dụng cho nên kết quả của việc áp dụng này thường không theo mong muốn; do đó, công việc này thường kết thúc dở dang và khi được hỏi quan điểm về đào tạo theo học chế tín chỉ, câu trả lời thường là :“khó, không áp dụng được, không phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam”.
Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) thực sự tiến hành triển khai phương thức đào tạo theo tín chỉ từ tháng 5/2006, muộn hơn so với một số cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, nhìn lại tiến trình áp dụng, ĐHQGHN có những bước đi thận trọng nhưng vững chắc, xác định được đúng chỗ cần bắt đầu để tạo điểm nhấn và xây dựng được một lộ trình thích hợp, tuy việc triển khai chưa thực sự được như mong đợi nhưng những thành công bước đầu đã mang lại những khích lệ to lớn để tiếp tục nghiên cứu và triển khai học chế tín chỉ thành công. Để tìm ra được những biện pháp khả thi về tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ trong giai đoạn hiện nay, luận văn này sẽ bắt đầu bằng việc trình bày khái niệm về đào tạo và tổ chức đào tạo, trình bày về lịch sử của giờ tín chỉ, các khái niệm về tín chỉ, những ưu nhược điểm của phương thức đào tạo này so với phương thức đào tạo truyền thống. Tìm hiểu thực trạng đào tạo nói chung và đào tạo môn chung trong chương trình cao học nói riêng ở ĐHQGHN, từ đó đề xuất những biện pháp khả thi cho công việc tổ chức đào tạo môn chung trong chương trình đào tạo cao học ở ĐHQGHN.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các khái niệm công cụ 1. Đào tạo Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển của xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người. Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với giáo dục nhân cách”.
Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ…để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng xuất và có hiệu quả”. Tổ chức đào tạo Tổ chức đào tạo là quá trình phân công, phối hợp các nhiệm vụ và nguồn lực để đạt được các mục tiêu đào tạo đã đề ra. Đó là sự liên kết giữa các thành viên tham gia đào tạo, liên kết quá trình đào tạo, liên kết các hoạt động trong hệ thống đào tạo để đạt được những mục tiêu đào tạo. Các chức năng quản lý Với tư cách là yếu tố quan trọng không thể thiếu được trong việc duy trì và phát triển một tổ chức, quản lý có bốn chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
(Nguyễn Thị Mỹ Lộc. 2003): 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Lập kế khoạch là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng của quản lý. Nó có ba nội dung chủ yếu đó là: xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức; xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu; quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó. + Tổ chức: là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức.
+ Chỉ đạo: chỉ đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ, hướng dẫn họ, chỉ đạo họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để hoàn thành những mục tiêu của tổ chức. + Kiểm tra: là một chức năng của quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành các hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Nội dung chức năng tổ chức Tổ chức là quá trình phân công và phối hợp các nhiệm vụ và nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã vạch ra. Đó là sự liên kết giữa các cá nhân, những quá trình, những hoạt động trong hệ thống nhằm thực hiện mục đích đề ra trên cơ sở các nguyên tắc và quy tắc của hệ thống.
Chức năng tổ chức còn là chức năng hình thành cơ cấu tổ chức quản lý cùng các mối quan hệ giữa chung. Cơ cấu tổ chức quản lý là hình thức phân công nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý, có tác động đến quá trình hoạt động của hệ thống quản lý. Cơ cấu tổ chức quản lý, một mặt phản ánh cơ cấu trách nhiệm của mỗi người trong hệ thống, mặt khác có tác động tích cực trở lại đến việc phát triển của hệ thống nếu tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc tổ chức quản lý. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Vài nét về học chế học phần áp dụng trong đào tạo ở đại học và sau đại học nƣớc ta 1. Bản chất của học chế học phần Để phù hợp với công cuộc “đổi mới” kinh tế xã hội ở Việt Nam từ năm 1986, trong hệ thống giáo dục đại học và sau đại học cũng triển khai nhiều đổi mới. Việc đưa học chế “học phần” vào toàn bộ hệ thống giáo dục đại học và sau đại học Việt Nam từ 1988 đến nay là một trong các đổi mới đó. Học chế học phần có các đặc điểm cơ bản như sau: - Bản chất của học chế này là sự tích lũy dần (accumulation) kiến thức: - Kiến thức được module hóa thành các học phần.
Học phần là một module kiến thức tương đối trọn vẹn và không quá lớn, có thể lắp ghép với nhau để tạo lên một chương trình đào tạo dẫn đến một văn bằng, người học có thể lũy dần trong quá trình học tập. - Để đo lường kiến thức theo khối lượng lao động và học tập của người học, khái niệm đơn vị học trình (ĐVHT) đã được đưa vào, đơn vị này về bản chất đồng nhất với khái niệm credit của hệ thống giáo dục đại học ở Mỹ. - Để làm cho các chương trình đào tạo mềm dẻo, có 3 loại học phần được quy định: học phần bắt buộc phải học, học phần lựa chọn theo hướng dẫn của nhà trường và học phần lựa chọn tùy ý. Ngoài ra cũng có quy định về việc được học thêm ngành đào tạo chính (major), ngành đào tạo phụ (minor) hoặc thêm văn bằng thứ hai.
- Với tinh thần tích lũy kiến thức, mỗi học phần được đánh giá bằng một đầu điểm (theo thang 10 bậc) là kết quả tổng hợp của các đánh giá bộ phận và của một kỳ thi kết thúc. Có quy định điểm tối thiểu cần đạt được (thường là điểm 5) để xem như học phần được tích lũy. Kết quả học tập chung của học kỳ, năm học hoặc khóa học được đánh giá bằng điểm trung bình chung: đó là điểm trung bình của các học phần đã tích lũy với trọng số là số đơn vị học trình của từng học phần. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Việc triển khai học chế học phần Cùng với học chế học phần, Bộ GD&ĐT đã ra Quyết định 2677/GD- ĐT ngày 3/12/1993 ban hành khung chương trình đào tạo, trong đó quy định khối lượng kiến thức tối thiểu và phân bố các thành phần kiến thức cho các văn bằng đại học và sau đại học. Cũng trong văn bản nêu trên có đưa ra định lượng cho đơn vị học trình cơ bản (= 15 tiết giảng lý thuyết hoặc thảo luận = 30->45 giờ thực hành thí nghiệm = 45->90 giờ thực tập tại cơ sở = 45->80 giờ chuẩn bị tiểu luận hoặc luận văn). Theo quy định đó một chương trình dẫn đến bằng cử nhân 4 năm phải có khối lượng 210 ĐVHT. Để đảm bảo sự thống nhất chung của quy trình đào tạo trong toàn bộ hệ thống giáo dục đại học và sau đại học, Bộ GD&ĐT ban hành các Quy chế khung về đánh giá kết quả học tập, xét lên lớp, tốt nghiệp, để căn cứ vào đó từng trường đại học, cao đẳng xây dựng quy chế đánh giá kết quả học tập riêng của mình.
Do sự vận dụng khác nhau tùy theo điều kiện và trình độ của từng trường, học chế học phần được thực hiện ở mỗi trường có các sắc thái khác nhau: khác nhau về mức độ thông tin cung cấp trước cho người học về chương trình đào tạo, khác nhau về mức độ có sẵn các học phần để lựa chọn ở các trường, để học thêm các ngành đào tạo chính, ngành đào tạo phụ hoặc văn bằng thứ hai… Trong quá trình triển khai học chế học phần, có nhiều Quy chế về đào tạo và một số quy định khác có liên quan đến quy trình đào tạo đã lần lượt được Bộ GD&ĐT ban hành. Quy chế đào tạo theo học phần chính thức đầu tiên QC 2238/QĐĐH được ban hành vào tháng 12 năm 1990 và quy chế QC 2679/GD-ĐT được ban hành tháng 12 năm 1993 bổ sung hoàn chỉnh Quy chế trước. Ngày 11/12/1999 một quy chế mới, Quy chế 04/1999/QĐ-BGD- ĐT được ban hành, sau đó ra đời một vài quy định về các môn thi tốt nghiệp ở các trường đại học và cao đẳng. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đào tạo và tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ 1.