Tổng quan luận án

Sau năm 1975, đặc biệt từ dấu mốc Đổi mới năm 1986, văn học Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển đổi sâu sắc về tư duy nghệ thuật và phương thức phản ánh hiện thực. Trong tiến trình này, truyện ngắn cùng với tiểu thuyết giữ vai trò trụ cột của văn xuôi đương đại. Sự xuất hiện đông đảo của các cây bút nữ đã tạo nên một hiện tượng văn hóa, xã hội và thẩm mỹ nổi bật, đánh dấu sự trỗi dậy của một thực thể văn hóa nữ trên văn đàn.

Tình yêu, hôn nhân và gia đình là những vấn đề gắn liền với đời sống cá nhân con người, đồng thời mang ý nghĩa văn hóa quan trọng đối với cộng đồng. Nhìn lại lịch sử văn học dân tộc, vấn đề này từng chịu nhiều giới hạn bởi tính quy phạm của văn học trung đại, tính chất ước lệ của văn học dân gian, hoặc bị chi phối bởi bầu không khí sử thi trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc giai đoạn 1945–1975. Bước sang thời kỳ đương đại, khi văn học dịch chuyển mạnh mẽ sang thể tài thế sự, đời tư, các nhà văn nữ với trải nghiệm giới chuyên biệt đã chiếm lĩnh mảng đề tài này như một không gian sáng tạo chủ đạo. Mặc dù đã có những bài viết và công trình bước đầu nghiên cứu về truyện ngắn nữ, song việc tiếp cận vấn đề tình yêu – hôn nhân – gia đình như một hệ thống chỉnh thể, chuyên biệt và bao quát cả hai phương diện nội dung tư tưởng lẫn thi pháp nghệ thuật vẫn còn là khoảng trống khoa học cần được giải quyết một cách thấu đáo.

Mục đích nghiên cứu: Qua khảo sát, phân tích, luận giải vấn đề tình yêu – hôn nhân – gia đình trong truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam đương đại (từ sau năm 1975 đến nay), luận án nhằm xác định đây là một vấn đề mang ý nghĩa xã hội – thẩm mỹ sâu sắc, rộng lớn của văn học Việt Nam đương đại được nhìn qua con mắt của các nhà văn nữ, qua một thể loại văn xuôi mang tính cập nhật và gần gũi nhất với đông đảo công chúng độc giả: truyện ngắn. Đồng thời, công trình đánh giá những thành công, đóng góp và cả những hạn chế, khiếm khuyết trong nhận thức vấn đề tình yêu – hôn nhân – gia đình của truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam đương đại.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng hợp, hệ thống hóa, phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu vấn đề tình yêu – hôn nhân – gia đình trong truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam đương đại, trên cơ sở đó thiết lập hướng nghiên cứu và xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài.
  2. Đưa ra cái nhìn chung về truyện ngắn và thiên hướng lựa chọn nghệ thuật đối với vấn đề tình yêu – hôn nhân – gia đình của các nhà văn nữ trong văn học Việt Nam đương đại.
  3. Khảo sát, chỉ ra, phân tích, luận giải những nội dung mới trong nhận thức về tình yêu – hôn nhân – gia đình của truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam đương đại.
  4. Khảo sát, chỉ ra, phân tích, luận giải nghệ thuật thể hiện tình yêu – hôn nhân – gia đình của truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam đương đại.
  5. Rút ra một số kết luận về đặc điểm, về những thành công và hạn chế của truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam đương đại trong nhận thức và thể hiện vấn đề tình yêu – hôn nhân – gia đình.

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề tình yêu – hôn nhân – gia đình trong truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam đương đại.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi thời gian: Khái niệm đương đại trong luận án được xác định từ năm 1975 đến nay. Khảo sát tập trung vào các tác phẩm được công bố, xuất bản trong giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2020.
  • Phạm vi ngữ liệu: Luận án tập trung khảo sát các truyện ngắn có giá trị nghệ thuật và được dư luận chú ý của các tác giả nữ tiêu biểu gồm: Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Võ Thị Hảo, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Lê Minh Khuê, Trần Thùy Mai, Dạ Ngân, Nguyễn Ngọc Tư,... cùng một số tuyển tập truyện ngắn nữ trong nước và hải ngoại. Đồng thời, luận án mở rộng so sánh với tác phẩm của các tác giả nam đương đại và các tác giả nữ giai đoạn trước năm 1975 để làm nổi bật đặc trưng đối tượng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và tổng thuật tình hình nghiên cứu trong nước thành ba xu hướng chính cùng các nghiên cứu chuyên sâu về đề tài:

Thứ nhất, nhóm công trình tổng kết, đánh giá thành tựu và đóng góp của các cây bút nữ:

  • Bùi Việt Thắng qua bài viết Khi người ta trẻ (I) (Tản mạn về truyện ngắn của những cây bút nữ trẻ) (1993) và tham luận Văn chương mang gương mặt nữ (2012, nhân dịp ra mắt cuốn sách Phái đẹp – cuộc đời và cây bút) đã khẳng định sự khởi sắc và tương lai của văn học nữ.
  • Bích Thu trong Văn xuôi của phái đẹp chỉ ra nỗ lực nâng cao tính thẩm mỹ thể loại và xác lập vị thế bình đẳng nghệ thuật với các đồng nghiệp nam giới.
  • Nguyễn Đăng Điệp trong bài viết Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại (in trong sách Văn học và nữ giới (Một số vấn đề lý luận và lịch sử)) ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ của văn học nữ tính với các gương mặt nổi bật như Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư.
  • Lê Thị Hường trong Ba mươi năm truyện ngắn nữ trong xu thế hội nhập phân tích sự xuất hiện của giới nữ như một nhân tố mang lại sinh khí mới.
  • Đoàn Ánh Dương với Trải nghiệm về giới nữ sau đổi mới nhìn từ văn học nữ và Thái Phan Vàng Anh với Văn xuôi các nhà văn nữ thế hệ sau năm 1975 nhìn từ diễn ngôn giới đều ghi nhận văn học nữ đã chuyển từ vị thế bên lề sang sóng đôi cùng các tác giả nam.
  • Ngoài ra, các bài viết của Hà Minh Đức (Những tác giả nữ trong nền văn xuôi cách mạng, 1995), Vũ Đức Tân, Nguyễn Thị Thành Thắng, Lê Hương Thủy, Lê Viết Thọ, Phạm Xuân Nguyên, Trần Thục, Châm Khanh đều đánh giá cao sự đóng góp của truyện ngắn nữ. Ngược lại, Nguyễn Thanh Sơn trong Các nhà văn nữ và sự khủng hoảng trong văn học Việt Nam hiện đại đưa ra góc nhìn hoài nghi về khả năng đổi mới của các tác giả nữ.

Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu về tư duy thể loại và cách tân thi pháp:

  • Các luận án tiến sĩ tiêu biểu gồm: Lê Thị Hường (1995, Những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1875 - 1995); Lê Hương Thủy (2013, Truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay (Nhìn từ góc độ thể loại)); Nguyễn Thị Năm Hoàng (2015, Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 – Nhìn từ góc độ thể loại).
  • Phạm Thị Thanh Phượng (2015, Truyện ngắn các nhà văn nữ đương đại – Tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại) nghiên cứu hệ thống về tư duy nghệ thuật nữ tính qua hình tượng cuộc sống, thế giới nhân vật, biểu tượng, không gian, thời gian và các yếu tố thi pháp.
  • Trần Thị Quỳnh Lê (2019, Truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay) tiếp cận dưới góc độ ký hiệu học, phân tích các mô hình giao tiếp với tự nhiên, con người, chính mình và các dạng thức biểu hiện của lối viết nữ.

Thứ ba, nhóm công trình tiếp cận từ các lý thuyết hiện đại (nữ quyền luận, phân tâm học, diễn ngôn):

  • Trần Thiện Khanh (Kháng cự tình trạng mất tiếng nói: Tiếng nói như một thân phận và như một hành động), Nguyễn Thị Bình (Ý thức phái tính trong văn xuôi nữ đương đại), Hồ Khánh Vân (Tự thuật tính dục – một lối viết nữ trong văn xuôi Việt Nam từ năm 1990 đến nay, Ý thức về địa vị “giới thứ hai”...), Mai Hồng Tuyết và Hoàng Thị Duyên, Bùi Thị Thủy, Nguyễn Thị Thanh Xuân.
  • Nguyễn Trọng Hiếu với Luận án Tiến sĩ Truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam đương đại từ góc nhìn phân tâm học (2017) và bài viết Phức cảm tình yêu trong một số truyện ngắn của các nhà văn nữ đương đại.

Về mảng nghiên cứu đề tài tình yêu – hôn nhân – gia đình: Các nhà nghiên cứu như Nguyễn Bích Thu, Thái Phan Vàng Anh, Đoàn Ánh Dương, Phạm Thị Thanh Phượng, Trần Thị Quỳnh Lê đều khẳng định đây là tâm điểm của thể tài thế sự, đời tư. Nguyễn Thúy Hà trong luận văn thạc sĩ Diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi Việt Nam đương đại khảo sát sáng tác của Dạ Ngân, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ và nhận định văn xuôi nữ vẫn chịu ảnh hưởng của các khuôn mẫu truyền thống. Các luận văn của Lê Thị Huệ (2014), Ngô Thị Kim Nguyên (2012) khảo sát đề tài này trên từng tác giả riêng lẻ.

Về tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:

  • Thụy Khuê có các bài phê bình sâu sắc về Phạm Thị Hoài (Phạm Thị Hoài trên sinh lộ mới của văn học), Võ Thị Hảo, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu.
  • Đoàn Cầm Thi trong tập tiểu luận Đọc “tôi” bên bến lạ khảo sát lối viết của Phạm Thị Hoài và tác động của toàn cầu hóa, Internet tới văn xuôi nữ.
  • Hoàng Dĩ Đình (chuyên gia Việt Nam học người Trung Quốc) hoàn thành Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (Trên tư liệu truyện ngắn ba nhà văn nữ) (2012), khảo sát đặc điểm ngôn ngữ và chiến lược trần thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh.

Khoảng trống nghiên cứu: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận truyện ngắn nữ ở diện mạo thể loại nói chung, giải mã thi pháp riêng lẻ hoặc phân tích đề tài tình yêu – hôn nhân – gia đình dưới góc độ xã hội học đơn thuần. Luận án này lựa chọn giải quyết khoảng trống: xây dựng một công trình chuyên biệt, mang tính chỉnh thể và hệ thống, kết hợp giữa nhận thức xã hội – thẩm mỹ mới về các thành tố tình yêu, hôn nhân, gia đình với các phương thức biểu đạt nghệ thuật đặc thù của truyện ngắn nữ giai đoạn 1975–2020.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết:

  • Nữ quyền luận (Feminism/Gynocriticism): Là điểm tựa lý thuyết chủ đạo, giúp soi chiếu trải nghiệm giới, ý thức phái tính, tiếng nói giải phóng bản ngã và khát vọng bình đẳng của phụ nữ trong các mối quan hệ tình cảm, gia đình.
  • Thi pháp học (Poetics): Cung cấp khung phân tích về tình huống truyện, xung đột, kết cấu cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, không gian – thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật.
  • Lý thuyết diễn ngôn (Discourse theory) và Phân tâm học (Psychoanalysis): Ứng dụng để giải mã các ẩn ức vô thức, bản năng tính dục, các phức cảm tâm lý và sự tái tạo diễn ngôn về giới trong văn học đương đại.
  • Khái niệm thể loại: Quan niệm về đặc trưng ngắn gọn, cô đọng, khả năng nắm bắt những khoảnh khắc đời tư của thể loại truyện ngắn và tính tương thích của nó với chủ thể sáng tác nữ.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp lịch sử: Đặt đối tượng vào diễn trình lịch sử, văn hóa, xã hội của Việt Nam từ năm 1975 và sau năm 1986 để nhận diện các yếu tố tác động đến nhận thức thẩm mỹ.
  • Phương pháp phân tích – tổng hợp: Khảo sát, mổ xẻ các tác phẩm cụ thể để khái quát thành các luận điểm có tính hệ thống.
  • Phương pháp so sánh: Đối sánh truyện ngắn nữ với truyện ngắn của các tác giả nam cùng thời kỳ và với sáng tác của các tác giả nữ giai đoạn trước năm 1975.
  • Phương pháp liên ngành: Huy động tri thức từ văn hóa học, triết học, xã hội học, tâm lý học và ngôn ngữ học.
  • Phương pháp loại hình: Xem xét truyện ngắn các nhà văn nữ viết về đề tài này như một loại hình thẩm mỹ mang cộng đồng giá trị riêng.
  • Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Khảo sát các tác phẩm ở cả cấp độ vi mô (chi tiết, câu chữ) và vĩ mô (chỉnh thể tác phẩm, hệ thống đề tài).

Nguồn tư liệu và dữ liệu khảo sát: Ngữ liệu phân tích là các tập truyện ngắn, tuyển tập truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam xuất bản từ năm 1975 đến năm 2020. Bên cạnh đó, luận án khai thác số liệu điều tra thực nghiệm từ đề tài khoa học "Công chúng và giao lưu quảng bá văn học thời kỳ đổi mới" để minh chứng cho sự chuyển dịch thị hiếu tiếp nhận của bạn đọc:

Tiêu chí khảo sát thị hiếu độc giả Tỷ lệ lựa chọn (%) Ghi chú quy mô mẫu
Đọc đề tài hôn nhân, tình yêu 65,9% Mẫu khảo sát: 636 người
Đọc đề tài chiến tranh 37,1% Mẫu khảo sát: 636 người
Đọc đề tài nông thôn 37,0% Mẫu khảo sát: 636 người
Hướng tới giá trị tư tưởng cao, chiều sâu nhân văn 69,1% Mẫu khảo sát: 636 người
Hướng tới tác phẩm có tính nghệ thuật đặc sắc, mới mẻ 50,2% Mẫu khảo sát: 636 người
Quan tâm vấn đề tâm linh, vô thức 41,3% Mẫu khảo sát: 636 người
Quan tâm chủ đề tình dục 14,3% Mẫu khảo sát: 636 người
Đọc tác phẩm dịch của nước ngoài 87,2% Mẫu khảo sát: 636 người
Đánh giá văn học Việt Nam đặt ra vấn đề gần gũi đời sống 87,5% Khảo sát trên 488 người
Lựa chọn đọc trên mạng vì tính tiện lợi 66,9% Mẫu khảo sát: 636 người
Đọc trên mạng để tiết kiệm chi phí mua sách 51,1% Mẫu khảo sát: 636 người
Quan tâm tác phẩm đang được dư luận chú ý 74,5% Mẫu khảo sát: 636 người
Tìm đọc tác phẩm "có vấn đề" (sex, cấm kỵ, bí mật đời tư) 33,2% Mẫu khảo sát: 636 người

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài

Chương này tập trung hệ thống hóa toàn diện các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến truyện ngắn nữ và đề tài tình yêu – hôn nhân – gia đình. Tác giả xác lập khung lý thuyết với trọng tâm là Nữ quyền luận kết hợp Thi pháp học và Phân tâm học. Chương 1 làm rõ khái niệm tình yêu, hôn nhân, gia đình trong đời sống xã hội và văn học, đồng thời khẳng định thể loại truyện ngắn là mảnh đất tương hợp tối ưu với chủ thể sáng tác nữ trong việc bộc lộ cái tôi trải nghiệm và khám phá những góc khuất đời tư.

Chương 2: Truyện ngắn và thiên hướng lựa chọn vấn đề tình yêu – hôn nhân – gia đình của các nhà văn nữ trong văn học Việt Nam đương đại

Chương 2 phân tích các tiền đề dẫn đến sự phát triển của truyện ngắn nữ và lý giải nguyên nhân đề tài này trở thành mối quan tâm xuyên suốt:

  • Tiền đề lịch sử, xã hội, văn hóa: Đại thắng mùa xuân 1975 kết thúc chiến tranh; Đại hội VI (1986) mở ra công cuộc Đổi mới với nguyên tắc nhìn thẳng vào sự thật; sự chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; sự đổi mới tư duy lãnh đạo văn nghệ của Đảng; tiến trình hội nhập quốc tế gắn với việc Việt Nam tham gia Công ước CEDAW (ký năm 1980, phê chuẩn năm 1981, hiệu lực năm 1982) và thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ (Mục tiêu 3 về bình đẳng giới, Mục tiêu 5 về sức khỏe bà mẹ); sự bùng nổ của công nghệ thông tin và văn học mạng.
  • Tiền đề thẩm mỹ, văn học: Sự suy giảm của cảm hứng sử thi và sự lên ngôi của thể tài thế sự, đời tư; sự phân hóa và thay đổi thị hiếu bạn đọc (như bảng số liệu điều tra xã hội học đã dẫn); quá trình dân chủ hóa đời sống văn học; quan niệm nghệ thuật mới nhìn nhận hiện thực là "cái khả nhiên" (Trần Đình Sử) thay vì phản ánh máy móc.
  • Thiên hướng lựa chọn: Tình yêu – hôn nhân – gia đình trở thành đối tượng chính của sự chiếm lĩnh nghệ thuật, nơi các nhà văn nữ phát huy tối đa thế mạnh về cảm quan giới tính và sự mẫn cảm nội tâm.

Chương 3: Nhận thức mới về tình yêu - hôn nhân - gia đình trong truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam đương đại

Chương 3 đi sâu vào các bình diện nội dung tư tưởng mới mà các tác giả nữ khám phá:

  • Nhận thức mới về các thành tố và mối quan hệ giữa chúng: Tình yêu, hôn nhân và gia đình không còn được nhìn nhận theo mô hình lý tưởng hóa hay bất biến. Tác phẩm đi sâu vào cấu trúc câu chuyện hạnh phúc cùng những bi kịch, đổ vỡ, sự rạn nứt trong đời sống vợ chồng thời hiện đại.
  • Vấn đề bản năng tính dục: Khắc họa vẻ đẹp phồn thực và khát khao tính dục chính đáng của người phụ nữ; miêu tả sự giải phóng bản năng như một nỗ lực tìm kiếm hạnh phúc cá nhân, đồng thời chỉ ra những bi kịch phát sinh khi bản năng xung đột với các chuẩn mực đạo đức xã hội.
  • Vấn đề bình đẳng giới và vai trò hai giới: Phê phán tàn dư gia trưởng, xem xét lại vị thế của người nữ trong gia đình và xã hội; khắc họa sự chuyển dịch vai trò của giới nam và giới nữ trong việc xây dựng và duy trì các mối quan hệ tình cảm đương đại.

Chương 4: Nghệ thuật thể hiện tình yêu - hôn nhân - gia đình trong truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam đương đại

Chương 4 khảo sát các phương thức thi pháp nổi bật:

  • Nghệ thuật tạo dựng tình huống và xung đột: Xây dựng các kiểu tình huống đời thường, tình huống tâm lý – đạo đức, tình huống nhận thức; thiết lập các xung đột nội tâm sâu sắc giữa khát vọng cá nhân và nghĩa vụ gia đình.
  • Tổ chức cốt truyện: Phân hóa thành hai dạng thức chính gồm loại truyện có cốt truyện truyền thống và loại truyện cốt truyện mờ, cốt truyện tâm lý hoặc bị phân rã theo dòng ý thức.
  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Tập trung vào thế giới nhân vật nữ đa dạng (người phụ nữ cô đơn, người phụ nữ nổi loạn, người phụ nữ chịu đựng, người tìm kiếm bản ngã); chú trọng miêu tả tâm lý phức cảm và đời sống nội tâm tinh vi.
  • Nghệ thuật tổ chức giọng điệu và ngôn ngữ: Sử dụng ngôn ngữ giàu chất cảm giác, ngôn ngữ cơ thể, ngôn ngữ đối thoại đời thường sắc sảo; tổ chức hệ thống giọng điệu đa thanh, kết hợp giữa giọng trữ tình xót xa, giọng tự vấn, giọng mỉa mai trào tiếu và giọng triết lý chiêm nghiệm.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận và thực tiễn:

  • Luận án là công trình nghiên cứu chuyên biệt, có tính hệ thống và bao quát về vấn đề tình yêu – hôn nhân – gia đình trong truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam giai đoạn từ sau năm 1975 đến năm 2020.
  • Khảo sát và chứng minh tình yêu – hôn nhân – gia đình là vấn đề cốt lõi định hình bản sắc, tiếng nói nghệ thuật và đóng góp của các cây bút nữ vào tiến trình đổi mới văn học dân tộc.
  • Ứng dụng kết hợp hiệu quả Nữ quyền luận, Thi pháp học và các lý thuyết văn học hiện đại vào việc xử lý một đối tượng văn học cụ thể, góp phần làm sáng tỏ khả năng ứng dụng của các lý thuyết này trong nghiên cứu văn học Việt Nam.
  • Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống tư liệu và nhận định khoa học phục vụ công tác nghiên cứu, học tập và giảng dạy các bộ môn Lý luận văn học, Lịch sử văn học Việt Nam hiện đại tại các trường đại học, cao đẳng và phổ thông.

Kiến nghị và định hướng ứng dụng:

  • Đưa các phát hiện của luận án vào việc biên soạn giáo trình, bài giảng chuyên đề về văn học nữ quyền và văn xuôi Việt Nam đương đại.
  • Tận dụng kết quả phân tích để mở rộng các hướng tiếp cận liên ngành giữa văn học với nghiên cứu giới (Gender Studies) và xã hội học gia đình.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn ngữ liệu khảo sát trong các tập truyện ngắn xuất bản từ năm 1975 đến năm 2020 của các tác giả tiêu biểu được dư luận chú ý; chưa thể bao quát toàn bộ khối lượng truyện ngắn đồ sộ của tất cả tác giả nữ trên các tạp chí địa phương hoặc các diễn đàn mạng chưa xuất bản thành sách.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu vấn đề tình yêu – hôn nhân – gia đình sang thể loại tiểu thuyết của các nhà văn nữ; tiến hành so sánh đối chiếu sâu hơn với văn học nữ của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á có cùng bối cảnh chuyển đổi xã hội.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Văn hóa học; các giảng viên, giáo viên Ngữ văn tại các bậc học; các nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề giới và gia đình học.
  • Phần nội dung giá trị:
    • Chương 1 và Chương 2: Cung cấp tổng quan tài liệu phong phú, hệ thống tiền đề lịch sử – xã hội – thẩm mỹ và bảng dữ liệu xã hội học giá trị về thị hiếu tiếp nhận văn học.
    • Chương 3 và Chương 4: Cung cấp các phân tích thi pháp chuyên sâu về nhận thức giới, tình huống, cốt truyện mờ, tâm lý nhân vật và nghệ thuật ngôn từ trong văn xuôi nữ đương đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định mốc thời gian "đương đại" từ giai đoạn nào và giới hạn khảo sát đến năm nào?
Luận án xác định khái niệm "đương đại" chỉ khoảng thời gian từ sau năm 1975 đến nay. Phạm vi khảo sát tác phẩm tập trung vào các truyện ngắn được công bố, xuất bản trong giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2020.

2. Những nhà văn nữ tiêu biểu nào được luận án lựa chọn làm ngữ liệu khảo sát trọng tâm?
Luận án tập trung khảo sát truyện ngắn của các tác giả nữ tiêu biểu gồm: Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Võ Thị Hảo, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Lê Minh Khuê, Trần Thùy Mai, Dạ Ngân, Nguyễn Ngọc Tư,... cùng một số tuyển tập truyện ngắn nữ trong nước và hải ngoại.

3. Tiền đề văn hóa - xã hội nào có tác động trực tiếp nhất đến sự phát triển của truyện ngắn nữ theo luận án?
Luận án chỉ ra các tiền đề căn bản: công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước từ năm 1986; sự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; sự đổi mới tư duy lãnh đạo văn nghệ của Đảng; tiến trình hội nhập quốc tế (Việt Nam tham gia Công ước CEDAW có hiệu lực từ năm 1982, thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ về bình đẳng giới); và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, Internet.

4. Khung lý thuyết chủ đạo nào được luận án vận dụng để giải mã đối tượng nghiên cứu?
Luận án xác định Nữ quyền luận (Feminism/Gynocriticism) là lý thuyết có ưu thế nổi trội nhất, kết hợp đồng thời với lý thuyết Thi pháp học, Phân tâm học, Ký hiệu học và Lý thuyết diễn ngôn để soi chiếu toàn diện cả nội dung tư tưởng lẫn hình thức biểu hiện.

5. Luận án chỉ ra những đóng góp gì về mặt thi pháp trong cách tổ chức cốt truyện của truyện ngắn nữ?
Luận án chỉ ra sự tồn tại song song của hai mô hình cốt truyện: loại truyện duy trì cốt truyện truyền thống và loại truyện có cốt truyện mờ, cốt truyện tâm lý hoặc bị phân rã theo dòng liên tưởng, dòng ý thức, phù hợp với việc biểu đạt các trạng thái phức cảm nội tâm của nhân vật nữ.


Kết luận

Luận án của tác giả Trần Thị Hồng Nhung là công trình nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về vấn đề tình yêu – hôn nhân – gia đình trong truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam giai đoạn 1975–2020. Bằng việc vận dụng kết hợp Nữ quyền luận, Thi pháp học và các phương pháp nghiên cứu liên ngành, luận án đã làm rõ sự tương hợp giữa trải nghiệm giới nữ, thể loại truyện ngắn và đề tài đời tư thế sự. Công trình khẳng định nhận thức mới mẻ về hạnh phúc, bản năng tính dục và bình đẳng giới, cùng những tìm tòi thi pháp về tình huống, cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ trần thuật. Đây là tài liệu khoa học có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam đương đại.