Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán và thông tin kế toán. Chương 2: Thực trạng về thông tin kế toán cung cấp cho nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao tính hữu ích của thông tin kế toán đối với nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN VÀ THÔNG TIN KẾ TOÁN 1.1 Bản chất của kế toán và thông tin kế toán 1.1 Kế toán và phân loại kế toán 1.1 Định nghĩa kế toán Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán, tác giả xin trình bày một số định nghĩa về kế toán của các nước trên thế giới và của Việt Nam đã được đưa ra, như sau: Các định nghĩa kế toán của các nước trên thế giới Theo J.Furaste, nhà kinh tế học nổi tiếng của Pháp, ông cho rằng: “Hệ thống kế toán là một lĩnh vực khoa học hiện đại với mục đích tính toán giá trị tài sản của doanh nghiệp, đồng thời xác định giá trị của vốn đầu tư”.
Sokolov, một chuyên gia hàng đầu về kế toán ở Nga, đã đưa ra hai khái niệm về kế toán. Thứ nhất, khái niệm kế toán xét về khía cạnh lý thuyết: “Kế toán chính là khoa học về bản chất cũng như cấu trúc các sự kiện diễn ra trong cuộc sống, trong hoạt động kinh doanh của con người. Nhiệm vụ của kế toán là phản ảnh nội dung các quá trình hoạt động kinh doanh cũng như mối liên hệ giữa các phạm trù pháp luật và phạm trù kinh tế trong quá trình hoạt động kinh doanh đó”. Thứ 2, khái niệm kế toán xét từ khía cạnh thực tế: “Kế toán là một quá trình theo dõi, phân loại, tổng hợp, phân tích, và chuyển tải thông tin về các sự kiện xảy ra trong hoạt động kinh doanh của con người.
Nhiệm vụ của kế toán xét từ khía cạnh này là việc đưa ra các nguồn thông tin phục vụ cho mục đích quản lý”.Thacker nêu quan điểm của mình về kế toán, được trình bày trong cuốn sách “Nguyên lý kế toán Mỹ”, như sau: “Kế toán là phương pháp cung cấp thông tin cần thiết cho quản lý có hiệu quả và để đánh giá hoạt động của mọi tổ chức”. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Còn theo Giáo sư, Tiến sĩ Robert Anthony, một nhà nghiên cứu lý luận kinh tế nổi tiếng của trường Đại học Harvard ở Mỹ, cho rằng: “Kế toán là ngôn ngữ kinh doanh”. Định nghĩa về kế toán được trình bày trong “Báo cáo về lý thuyết kế toán căn bản” được ban hành bởi Hiệp hội kế toán Hoa kỳ: “Kế toán là một tiến trình ghi nhận, đo lường và cung cấp các thông tin kế toán nhằm hỗ trợ cho các đánh giá và các quyết định của người sử dụng thông tin”. Ủy ban thuật ngữ của học viện kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA), đã định nghĩa: “Kế toán là một nghệ thuật dùng để ghi chép, phân loại và tổng hợp theo một phương pháp riêng có dưới hình thức tiền tệ về các nghiệp vụ, các sự kiện kinh tế và trình bày kết quả của nó cho người sử dụng ra quyết định”.
Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), cho rằng: “Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại, tổng hợp theo một cách riêng có bằng những khoản tiền các nghiệp vụ, và các sự kiện mà chúng có ít nhất một phần tính chất tài chính và trình bày kết quả của nó”. Theo Ủy ban thực hành kiểm toán quốc tế (IAPC), thì: “Một hệ thống kế toán là hàng loạt các nhiệm vụ ở doanh nghiệp mà nhờ hệ thống này các nghiệp vụ được xử lý như một phương tiện duy trì các ghi chép tài chính”. Các định nghĩa kế toán của Việt Nam Trong nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, kế toán được xem là: “Kế toán xã hội chủ nghĩa là công việc tính toán, ghi chép, phản ánh bằng con số một cách liên tục, toàn diện và hệ thống các loại vật tư, tiền vốn và mọi hoạt động kinh tế, qua đó mà giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước; tình hình bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa”. Theo điều lệ tổ chức kế toán nhà nước, thì: “Kế toán là công việc ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá trị để phản ánh, kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn và kinh phí của nhà nước cũng như của từng tổ chức xí nghiệp”.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Theo Luật kế toán Việt Nam ban hành vào năm 2003: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”. Định nghĩa về kế toán được đăng trên website www.vn: “Kế toán là nghệ thuật thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về toàn bộ tài sản và sự vận động của tài sản (hay toàn bộ thông tin về tài sản và các hoạt động kinh tế tài chính) trong doanh nghiệp nhằm cung cấp những thông tin hữu ích cho việc ra các quyết định về kinh tế - xã hội và đánh giá hiệu quả của các hoạt động trong doanh nghiệp”. Qua các định nghĩa về kế toán đã được nêu như trên có thể nhận thấy rằng tùy thuộc vào cách thức tiếp cận về kế toán mà có nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán. Tuy nhiên, những định nghĩa này đều thống nhất với nhau ở chỗ: “Kế toán là một hệ thống những khái niệm và phương pháp hướng dẫn chúng ta thu thập, đo lường, xử lý và truyền đạt những thông tin cần thiết cho việc ra quyết định kinh tế hợp lý”1.
Các định nghĩa trước đây về kế toán thường chú trọng đến các nhiệm vụ giữ sổ sách của kế toán đó là việc ghi chép, phân loại và tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Tuy nhiên ngày nay, định nghĩa hiện đại về kế toán rộng hơn nhiều. Kế toán được định nghĩa như là một hệ thống thông tin dùng để đo lường, xử lý và truyền đạt những thông tin về tài chính của một đơn vị kinh tế. Thông tin này giúp người sử dụng có thể đưa ra các quyết định hợp lý của mình.
Từ việc tiếp cận các quan điểm khác nhau về khái niệm kế toán thông qua một số các định nghĩa nêu trên, bản chất của kế toán được nhìn nhận như sau: Kế toán là một ngôn ngữ Kế toán được nhận thức là một ngôn ngữ kinh doanh. Đó là một phương tiện truyền đạt thông tin về một doanh nghiệp. Nhận thức kế toán là một ngôn ngữ kinh doanh vì các hoạt động kinh doanh khác nhau của một doanh nghiệp được báo cáo trên các báo cáo kế toán bằng ngôn ngữ kế toán cũng giống như tin tức đăng tải trên báo chí hay trên các phương tiện truyền tin khác. 1 Nguyên cứu bản chất kế toán qua các khái niệm về kế toán, Webketoan.vn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Kế toán là một hệ thống thông tin Kế toán được cho là quá trình kết nối giữa một nguồn thông tin, một kênh thông tin với tập hợp những nguồn nhận thông tin.
Theo quan điểm kế toán là một hệ thống thông tin, kế toán có thể hiểu là: “Quá trình mã hóa các quan sát theo ngôn ngữ của kế toán thành các ký hiệu qua các báo cáo của hệ thống đó và giải mã chúng để truyền đạt các kết quả đó”. Quan điểm này nhấn mạnh đến việc nhận thức và truyền đạt thông tin kế toán. Kế toán là một hồ sơ lịch sử Kế toán được xem là phương tiện cung cấp thông tin lịch sử của một tổ chức và các giao dịch của nó với các môi trường xung quanh nó. Đối với chủ sở hữu hay đối với các cổ đông của một doanh nghiệp, các hồ sơ kế toán cung cấp lịch sử về trách nhiệm quản lý các nguồn lực của chủ sở hữu.
Kế toán là hệ thống thông tin hoạt động qua 3 (ba) giai đoạn: Giai đoạn thu thập và ghi nhận; Giai đoạn đánh giá kết quả và hiệu quả; Giai đoạn cung cấp thông tin cho hoạch định. Kế toán là một hàng hóa Kế toán cũng được xem là hàng hóa sinh ra từ một hoạt động kinh tế. Bởi vì, kế toán cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng cần sử dụng thông tin khác nhau. Người nhận thông tin có thể đưa ra các quyết định sáng suốt và hiệu quả hơn.
Thay vì nếu không có thông tin, muốn có được các thông tin cần có chi phí bỏ ra, người sử dụng thông tin này phải nhận diện được kết quả của thông tin làm thay đổi các quyết định so với chi phí để có được thông tin. Sự lựa chọn thông tin kế toán và các kỹ thuật kế toán có thể ảnh hưởng đến lợi ích của các nhóm người khác nhau trong xã hội. Kết quả là có một thị trường thông tin kế toán với cung và cầu xác định có thể không giống nhau. Kế toán phản ánh thực trạng kinh tế hiện hành Kế toán cũng được xem xét như một phương tiện phản ánh thực trạng kinh tế hiện hành.
Theo quan điểm này thì cả bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đều phải dựa trên cơ sở đánh nào mà phản ánh phù hợp nhất thực trạng kinh tế thay vì chi phí lịch sử. Phương pháp được xem là phản TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 ánh phù hợp nhất thực trạng kinh tế nhấn mạnh vào giá hiện hành và giá tương lai hơn là giá lịch sử. Mục tiêu chính của quan điểm này của kế toán là để xác định thu nhập thực sự, là quan điểm phản ánh sự thay đổi về của cải của doanh nghiệp theo thời gian.2 Phân loại kế toán Theo quan điểm của nhiều chuyên gia kế toán, kế toán trong nền kinh tế thị trường được phân chia thành bốn bộ phận: Lý thuyết kế toán, Kế toán tài chính, Kế toán quản trị và Kiểm toán. Lý thuyết kế toán Lý thuyết kế toán cung cấp những cơ sở và giải thích cho sự phát triển của kế toán thực dụng.
Kế toán thực dụng nhằm đáp ứng yêu cầu cung cấp những thông tin cần thiết cho người sử dụng bên trong hay bên ngoài doanh nghiệp. Lý thuyết kế toán là sự giải thích rộng rãi những ứng xử của người cung cấp thông tin và người sử dụng thông tin.