Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. sơ LƯỢC TÌNH HÌNH TỬ VONG MẸ 1. Tình hình tủ vong mẹ trên thế giới Việc mang thai và sinh đẻ là một trong những nguyên nhân chú yếu gây ra tú vong, bệnh lặt và tàn phe dối với phụ nữ trong độ tuổi sinh dẻ ử hầu hết các nước dang phát triển, chiếm ít nhất 18% gánh nặng bệnh tật loàn cầu ờ nhóm tuổi này- nhiều hơn bất kỳ một vấn dề sức khóe nào 1661. Mồi năm trên thế giới ước lính có lừ 500.000 phụ nữ chết do những biến chứng của thai nghén và sinh nở, trong đó 99% trường h ọp x ảy ra ở các nước dang phát triển.
Như vậy mỗi ngày có 1400 ca, trung bình mỗi phút có một trường hợp tử vong mẹ [52, 59, 68, 71 ]. Tuy nhiên tý lệ tứ vong mẹ trong thực tế còn cao hon [58, 651. Theo WHO và UNICEF, nguy co lử vong mẹ là 1/16 ở Châu Phi, 1/65 ở Châu Á. 1/130 ờ Châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê, 1/1.400 ở Châu Âu và 1/3.
Sự khác biệt về nguy cơ lử vong mẹ ớ cấp độ quốc gia càng sâu sắc hon: chảng hạn như ở Ethiopia, cứ 9 phụ nữ thì có 1 phụ nữ chêì do các biến chứng liên quan dên thai nghén so vói 1/8. Theo ước lính của Liên Hợp Quốc năm 1995, tỷ lệ lử vong mẹ (MMR) chung loàn thế giói là 400/100.000 trỏ sinh sống. Tỷ lệ này cao nhất ờ Châu Phi 1.000, thấp nhái ó Chảu Ầu 28/100. Tại Châu Á, MMR rất khác biệt nhau giữa các nước: Hóng Kông, Nhật Bán, Singapore có tý lệ rất thấp, lừ 7- 10/100.000 xếp ngang hàng với các nước có tỷ lệ thấp nhất ỏ Châu Âu; các nước Bangladesh (850/100.000) có lý lệ Ihuộc loại cao nhất thè' giới [37, 58], 1.
l ình hình tử vong mẹ ỏ Việt Nam Theo ước lính cùa WHO và UNICEF năm 1997, lý lệ lử vong mẹ ờ Việt Nam là 160/100. Như vậy hàng năm nước la có khoáng 3.000 phụ nữ lử vong liên quan den thai nghén và sinh de [37]. Tý lệ này khác nhau ờ lừng khu vực, cao nhất ờ Táy Nguyên 418/100.000, liếp đến là mien núi phía Bắc 298/100.000 là Bắc Trung bộ, Duyên hải miền Trung và Đổng bằng sông Cửu Long, thấp nhâì là Đông Nam bộ 130/100.000 và Đồng bằng sông Hồng 107/100. Theo số liệu mới nhất của Niên giám thống kè y tế 2000, MMR ở nước ta năm 1999 là 95/100.
TÂM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC CSTS Dân số thê' giới hiện nay trên 6 tý người, khoảng 1,5 tỷ là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ [57], với hơn 200 triệu phụ nữ mang thai hàng năm, 4091 trong số đó có những biến chứng có liên quan đến thai nghén và sinh đẻ, 15% có những biến chứng de dọa tính mạng mẹ và con cần dược chăm sóc san khoa khẩn cấp [60J. Việc liếp cặn các dịch vụ chăm sóc sán khoa có chất lượng cho lất cá phụ nữ là yêu cầu quan trọng nhất của sáng ki ến “Làm m ẹ an loàn” 1987 t ại Nairobi, của Hội nghị quốc tế về dán số và phát triền 1994 tại Cairo, cũng như cưa Hội nghị quốc tê' về phụ nữ lần thứ tư 1995 lại Bắc Kinh [55]. Như vậy có thể khắng định ràng chăm sóc thai sản, nhất là CSTS có lầm quan trọng vô cùng to lớn đối với người phụ nữ khi mang thai. CSTS là sự chăm sóc mà người cán bộ y tế (CBYT) dành cho PNCT để dược đảm bảo là thai nghén an toàn và con sinh ra được khỏe mạnh.
CSTS bao gồm chăm sóc hồ trợ, chàm sóc dự phòng, chăm sóc người có bệnh trong giai đoạn thai nghén. CSTS là một trong những nhiệm vụ cư bán của Y lê' tuyến co' sử trong còng lác CSSKBMTE. Dó là việc theo dõi sức khóe của Ihai phụ, tiến hành diều Irị và nâng cao sức khóe cho họ trong thòi gian có thai bàng cách dưa ra các lòi khuyên và các hoạt dộng giáo dục thích họp, phát hiện những trường họp có nguy cơ cao và chuyển lên luyến trên kịp thời, theo dõi sức khỏe thường xuyên dể có thê phát hiện và xử lý các lình huống một cách phù hợp. CSTS xuất hiện từ dầu thế ký 20 ở Châu Âu và Bắc Mỹ và dến nay dã dược áp dụng rộng rãi trên loàn thế giới.
CSTS đã góp phần làm giảm lý lệ lử vong và bệnh lál ở người mẹ thông qua việc phát hiện và chữa những bệnh dẫn đến nguy CO’ lử vong cao trong khi đẻ. ớ các nước dang phát triển, số phụ nữ đến khám thai ở những bà mụ vườn nhiều hon so với số người đến khám ở các bác sỹ chuyên khoa sân hoặc nữ hộ sinh. Sô các thai phu đẻ con tại nhà do người nhà hoặc các bà mụ vườn dỡ chiếm một tỷ lệ -6- lớn. Vì vậy các thai phụ cần thiết phái đến khám thai tại các cơ sở y lố ít nhất một lần đế nhận được các thông tin cần thiết nhất trong cuộc đẻ sắp lới cho dìi họ dẻ lại nhà hay lại cơ sờ y tê' (CSYT).
CSTS có tác dụng phát hiện, diều trị và phòng tránh dược một số bệnh có tính chất mạn tính, ví dụ như thiếu máu, sốt rét, cao huyết áp, nhiễm khuẩn đường sinh sán (RTI). Đối với một số bênh cấp tính như chảy máu khi đỏ, đẻ khó thì CSTS ít có lác dụng hơn. CSTS dặc biệt có hiệu quả dối với sức khỏe của bà mẹ và thai nhi ở các nước đang phái triển. Theo kết quá nghiên cứu ở Zaire, nguy cơ lử vong ở nhũng phụ nữ có thai mà không theo dõi thai trước đẻ cao hơn ở những người có di khám thai là 15% |42|.
Đô'i với nhóm người có nguy cơ cao, CSTS cũng có rất nhiều tác dụng trong việc phát hiện và xử lý các lình huống bệnh tật cán ihiêì. Một nghiên cứu về 718 trường hợp lử vong mẹ ở Ai Cập cho thấy rằng 92% số trường hợp trên có thể tránh dược nếu được chăm sóc có chất lượng [61,63], Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng chứng tỏ tầm trọng cùa công tác CSTS trong việc hạn chế lử vong mẹ. Điều tra Nhân khẩu học và Sức khỏe 1997 cho thấy tỷ lệ các bà mẹ không di khám thai hoặc di khám thai muộn cao là một yếu tố quan trọng góp phần vào lý lệ lử vong mẹ cao ớ Việt Nam [49]. Điều ira về lử vong mẹ của Viện Bảo vệ bà mẹ ire so’ sinh chơ ihấy 90% tử vong mẹ có thể phòng tránh dược.
Trong sô' nhũng trường hợp lử vong mẹ, 65% chua bao giờ di khám thai, 22% chí khám thai một lần [19J. Theo nghiên cứu của Du Quang Liệu lại huyện Lương Tài, Bắc Ninh năm 2000, trong sô' những phụ nữ bị tai biến sán khoa, 8,6% không di khám thai lần nào, 25,7% khám thai không đủ 3 lần [33], Theo Đỗ Trọng Hiếu: “Nếu ai cũng hiểu khám thai là cần thiết và chí cần 90% phụ nữ có thai khám thai đủ 3 lần trong một thai kỳ thì nguy cơ lử vong dã giám dược trên 50%” [28], 1. NHỮNG VIỆC CẤN THỤC HIỆN TRONG CSTS Các dịch vụ CSTS thường dược thực hiện lại các co’ sờ y lế, nhưng dôi khi cũng do các dội lưu dộng thực hiện lại cộng dồng. Thông qua việc thực hiện lại cộng dồng, việc cung cấp các loại thuốc nhu’ viên sắt, acid folic, các gói dè sạch, các dụng - 7- cụ kè hoạch hóa gia dinh (KHHGĐ) đã dược dẩy manh hơn.
Sự liếp cận với các dịch vụ y lê và ánh hưởng của các hành vi sire khóe lốt dược nâng cao hơn thông qua sự tham gia của cộng dồng. Ớ nước la, hoạt dộng CSTS thường dược lóng ghép với chương trình Tiêm chúng mờ rộng, chương trình Phòng chống suy dinh dưỡng trỏ em; dóng thời hoại dộng này cũng dược lồng ghép trong các dợt truyền thông dân sô của chương trình Bảo vộ sức khóc hà mẹ trỏ em và Kế hoạch hóa gia dinh (BVBMTE/KHHGĐ) lại các trạm y lê' (TYT) xã, phường. Khám thai: Ớ nước ta hiện nay theo quy dinh của Bộ Y tê' trong một lần thai nghén hình thường sán phụ cần dược khám ít nhất 3 lần |6, 7, 20, 29, 451: + Lán khám thai thứ nhất: Trong khoáng thời gian 3 tháng dầu, mục dích: + Xác định xem đúng có thai hay không. + Nếu có thai, liên hành dăng ký thai nghén (nêu có thai ngoài kè' hoạch thì tư vân cho bà mẹ hút thai sớm hoặc nạo thai).
+ Phát hiện thai nghén có nguy co'. + Phát hiện bất thường của thai trong giai đoạn đầu. + Phái hiện các bệnh của thai phụ, nếu có gứi lên tuyến trên dề xử trí (xem có the dể phát triển dược hay không). + Lần khám thai thứ hai: Trong khoáng Ihời gian 3 tháng giữa, mục dích: + Kiêm ira xem thai có phát triển bình thường không.
+ Cơ thể mẹ có thích nghi với thai nhi không. + Tiến hành tiêm mũi liêm phòng uốn ván (UV) thứ nhất. + Lấn khám thai thứ ba: Trong khoáng thời gian 3 tháng cuối với mục dích: + Kiếm tra xem thai có phái triển bình thường không. + Ngôi thai có thuận không.
+ Bà mẹ có nguy cơ gì không. + Phát hiện bất thường của thai ờ giai đoạn cuối, dề phòng lai biến sản khoa. + Dự kiến ngày sinh và chọn nơi sinh an toàn cho cá mẹ và con. + Tiên hành tiêm mũi liêm phòng uv thứ hai.
Trong mồi lần khám thai, CBYT sẽ dưa ra những lời khuyên về chè' dộ dinh dưỡng, chê độ lao dộng, nghi ngoi, vệ sinh khi có thai v. -8- + Nội dung chung cho các lần khúm thai [4, 28]: + Hói ngày kinh cuối cùng để lính tuổi thai. + Tiền sứ các lấn thai trước có gì bất thường không. + - Đếm mạch, đo huyết áp.
+ Khám các bệnh nội khoa, nghe lim phổi. + Xem có bị phù hay thiếu máu không. + Thứ nước tiểu xem có protein hoặc đường không. + Theo dõi chiều cao lử cung.
+ Cân để theo dõi sự phát triển của Ihai. + Tất cá những vấn đề trên phái dược ghi vào phiếu khám và theo dõi thai. + Tư vấn, dặn dò và hẹn khám lần sau. Tiêm phòng vaccin uốn ván [3, 17, 25] Vaccin uốn ván là loại thuốc khi tiêm vào sẽ kích thích CO' th ể sán xu ất ra kháng th ể chống lại bệnh uốn ván vì vậy bảo vệ cho cả mẹ lẫn con không bị uốn ván.
Tiêm vaccin uốn ván không có hại cho thai nhi mà chỉ có lợi cho cả mẹ và con.