CHƯƠNG I. TỎNG QUAN TÀI LIÊU Thai nghén và sinh đẻ là quá trình sinh lý lự nhiên, đổng thời có nhiều Ihay đổi vé giải phau, Eãm sinh lý cùa người mẹ. Những thay đổi này có the xây ra rất sớm và diễn ra liên lục trong suốt thời kỳ thai nghén để đáp ứng với nhu cầu sinh lý của người mẹ và sự phát triển của thai nhi. Trong mỗi làn mang thai và sinh nở, người phụ nữ phải đối mạt với nhiều nguy cơ liẻn quan tới những lai biến độl ngột và khó lường trước.
Những tai biến này có thể dẫn tới thương tật thậm chí tứ vong cho bà mẹ và thai nhi. L Tình hình tử vong mẹ và tử vong trẻ sơ sinh.1 Tình hình tử vong mẹ và tủ vong trẻ sơ sinh trên Thê giới, Tình hình tử vong mẹ Theo Tổ chức y tế Thê' giới (2001), mỗi năm có hơn 585.000 phụ nữ tử vong do các nguyên nhãn sản khoa. 640 triệu phụ nữ ốm yếu do liên quan đến thai nghén, 64 triệu phụ nữ phải chịu dựng những biến chứng khi sinh, 500 triệu phụ nữ phải chịu đựng sự thiếu hụt dinh dưỡng Trong đó 90% trường hợp tử vong mẹ xảy ra ở Châu Á và Châu Phi, 25-30% sô' tử vong ở vào độ tuổi sinh sản ở các nước đang phát triển [11][22][39]. O các nước đang phát triển, mang thai và sinh đẻ là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong, bệnh tật và tàn phế cho phụ nữ trong dỏ tuổi sinh đẻ, chiếm ít nhất 18% gánh nặng bệnh tạt ở nhóm tuổi này, nhiều hơn bất kỳ một vấn đề sức khoé nào khác [34].
Tám nước trên thê' giới có tỳ lệ tỉr vong mẹ cao nhất là Bangladesh, Ethìophia, ấn Độ, Indonesia, Nepal, Nigeria, Pakistan và Uganda. Điều này phản ánh tình trạng kinh tồ' xã hội, đặc biệt là sự phát triển của hệ thống y tế ở các quốc gia này [22][39]. Có sự khác biệt rõ ràng về tỷ lệ từ vong mẹ giữa các nưỏc phát triển và dang phát triển và giữa các khu vực với nhau. 8 Tình hình tử vong mẹ ớ một số nước Chàu Á.
Nước Tỷ lệ tử vong mẹ/100.000 trẻ đẻ sống Brunei(1997-1999) 26,7* Indonesia (1999) 312 Japan(2000) 7,1 Malaysia (1999) 20.0 Phi li pines (1995) 100,0 Singapor(1999) 13,2* Thái Lan (1995-1999) 13,2* Nguồn sô liệu: Niên giám thông kê y tế năm 2002, * data of 2000 [1] Tinh hình từ vong trẻ sơ sinh Hàng nãm có 8 triệu thai nhi và trẻ sơ sinh chết vào cuối thời kỳ thai nghén, vào lức lọt lòng và ngay sau khi sinh ít lâu, nguyên nhân chủ yếu là do sức khỏe của bà mẹ kém hay biến chứng sau sinh. Trong đó 4,3 triệu chết khi mới lọt lòng, 3.3 triệu chết sau khi sinh được vài ngày. Tử vong sơ sinh chủ yếu xảy ở các nước đang phát triển, chiêm 96% tré sơ sinh chết hàng nám trên thế giới [22]. Vé nguyên nhàn gãy từ vong, WHO đánh giá 85% từ vong SƯ sinh là do nhiễm trùng, ngạt thở, chấn thương; ở Cháu Á: 37% trẻ sơ sinh chết do người mẹ bị suy nhược, 21% do biên chứng sản khoa, 22% do các nguyên nhân khác.
Tỷ lệ thai chết trong từ cung và chết sơ sinh ở một số vùng như sau: ở Cháu Á là 53/1000 và 4/1000 ca sinh đè, ờ Châu Phi là 75/1000 và 25/1000 ca sinh đẻ [22], 1. Tình hình tử vong mẹ và tử vong trẻ sơ sinh ở Việt Nam. Tinh hình tử vong mẹ Trong những nảm gần đây, sức khỏe bà mẹ và tré sơ sinh ngày càng được quan tâm. tình hình tử vong mẹ từng bước được cải thiện, tỷ lệ tử vong mẹ trong toàn quốc giảm từ 233/100.000 trẽ đẻ sống năm 1990 xuống 100/100.000 trẻ đẻ sống năm 2000 [37] và đến nắm 2003 giảm xuống mức 85/100.
Tỷ lệ tử vong mẹ khác nhau ờ từng khu vực, ở miền núi và vùng sâu, vùng xa tỳ Ịệ từ vong mẹ cao hơn khu vực đổng bằng. Năm 2002 Vụ BVBMTE/KHHGĐ 9 điéu tra hổi cứu tử vong mẹ từ 1/1/2000 đến 31/12/2001 tại 7 tinh thuộc 7 vùng sinh that cho thày tỳ lê LỪ vong mẹ chung cho 7 tinh là 130/100.000, ước tính từ vong mẹ ờ mién núi và trung du là 269/100.000 và ở đóng bàng lù 81/100. ở Cao Bàng là cao nhất (411/100.000), tiếp theo lằ Quảng Ngãi (199/100.000), thấp nhất là ở Hà Tây 46/í 00.000 và Bình Dương 45/100. Vé ngu yen nhân, 75 - 80% l rường hợp tủ vong mẹ là do các biến chứng và bệnh nhiẻm trùng xảy ra trong quá trình mung thai Bên cạnh dó, vị thê' của người phụ nữ trong Xã hội: sinh dè nhiều lần; chất lượng dịch vụ chăm sóc sản khoa không dúm bảo góp phần làm tăng tỷ lệ tử vong mẹ.
Tình hinh tử vong của trẻ sơ sinh Các nghiên cứu vể rình trạng tử vong và bệnh ŨI trẻ sư sinh và chu sinh ớ Việt Nam hiện còn rất ít. Gần đãy mới chi có một nghiẺn cứu tưưng dối quy mứ về chết chu sinh do Ts. Trần ThỊ Trung Chiến và các cộng sụ tiến hành năm 2001 tại 7 tỉnh đại diện cho 7 vùng sinh thái của Việt Nam cho thấy con sổ ước Lính về tý lệ chết chu sinh trên toàn quốc là 22,2%ÍJ. Tạt các vùng mien núi, Tây Nguyên là khư vực có tỷ lệ chết chu sinh cao nhất với 37,4%O và vùng núi phía Bầc xếp thứ 2 với 27,4%o[l2].
So vời các nước trong khu vực, VỚI mục tiêu chiến lược quốc gia vể làm mẹ an toàn giai đoạn 200! -2010 cũng như để đầm bảo sựcỗng bàng trong chăm sóc sức khòe nói chung và sức khoè sinh sàn nứt riêng, đòi hỏì sự nỗ lực phân đấu không chì riêng ngành y tế’ mà là eùa, toàn xã hỏi, nhằm nâng cao hơn nữa kiên thức cùa các bà mẹ, thành viên trong gia đinh và cộng đổng về chăm sóc thai nghén, nâng cao kha năng tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc trưóc sinh cho các bà mẹ. Trong dó sự cam kết vé chính trị, sự đáu tư thoâ đáng về nguồn lực giữ vai trò quan trọng. Có như vậy mới đạt dược mục Liêu cua chính sách quóc gia về làm mẹ an toàn là đến năm 2010 giảm tỳ lệ tử vong mẹ xuống còn 70/100.000 trẻ dẻ sông, tỷ lệ chết chu sinh còn 18%0, tý lệ trẻ đẻ nhẹ cân còn 6% [6]. Tầm quan trộng của cham sóc trước sình Trong mỏi lần mang thai và sinh nờ, người phụ nữ phải đối mặt với nhiều nguy cơ liởn quan tới những tai biến đột ngột và khó ỉưừng ĩrưóc.
Những tai biến 10 này có thể dản tới thương tật thậm chí lử vong cho bà mẹ và thai nhi. Theo ước tính của Tổ chúc y tể Thế giới số' ca lừ vong mẹ hàng năm trên thế giới là khoáng 585.000 người (WHO. 1996) và khoảng 300 triệu phụ nữ đang phái gánh chịu những bệnh tật và tổn hại sức khoé hoặc trước mãi hoặc làu dài đo các nguyên nhàn hên quan đến thai nghén và sinh nở, chiếm hơn 1/4 tỏng số phụ nữ đang sinh sống tại các nước đang phát triỂn. Tai hiên sản khoa đã trớ thành nguyên nhản tứ vong lớn nhất dõi với phụ nữ trọng độ tuổi smh đẻ tại nhiéu nước đang phát triển [12], Chám sóc trước sinh có tác dụng phát hiện, điều trị và phòng tránh được một só bệnh có lính chãi mạn tính như thiếu máu, cao huyết áp.
Chũm sóc trước sinh đặc biệt có hiệu quả đồi với súc khoẻ của bà mẹ và thai nhi ờ các nước đang phát triển. Theo kết quả nghiên cứu ở Zaire, nguy cư tử vong ở những phụ nữ có thai mà không theo dõi thai trước đè cao hơn ở những người có đi khám thai là 15%. [27], Các nghiên cứu ồ Việt Nam củng chứng tô tàm quan trọng cứa cõng tác chăm sốc trước sinh trong hạn chẽ tử vong mẹ. Điểu tra Nhân khâu học và sức khọẻ 1997 cho tháy tỳ lệ các bà mẹ không đi khám thai hoặc đi khám thai muộn cao là một yếu lố góp phần quan Lrọng vào tỷ lệ tử vong mẹ cao ở Việt Nam [32].
Nghiên cứu của Vụ SKSS năm 2002 vể tử vong mẹ lại 7 tỉnh thuộc 7 vùng sinh thái cho thấy 50% trường hợp các hà mẹ lừ vong đã không đi khám thai lần nào [34]. Điều: này chứng tò phụ nữ có thai khủng đi khám thai hoặc khám thai không đẩy đú là rất phổ biên, Biểu hiện sự chù quan hoặc kém hiểu biết của các bà mẹ có thai trong việc chãm sóc thai nghén và nó trở Ihành nguy cư Lử vong cùa cúc bà mẹ. Nghiên cứu của Dư Quang Liệu tại huyện Lương Tài - Bầc Ninh nãm 2000 trong số những phụ nữ bị tai biến sán khoa 8.6% không đi khám thai lần nào, 25,7% khám ihaí khừng đù 3 làn [15]. Truyền thông, tư vẩn nàng cao kiến thức của các bà mẹ, [hành viên trong gia dinh và cộng đổng về chãm sóc thai nghén; dam bảo như cầu dinh dưỡng, thực hiện chế độ làm việc nghỉ ngơi hợp lý khi có (hai; phòng và điểu trị bệnh cùa mẹ trong thời gian mang thai; từ hò các thói quen có hại; phát hiện sớm, theo dõi và can thiệp kịp thòi các bất thường xây ra.
Đó là nhừng việc lảm hết sức cần thiết và là yêu cầu 11 quan trọng, sáng kiến “Làm mẹ an toàn" năm 1987 tại Nairobi. Hội nghị quổc tẽ' vé dân số và phát triển năm 1994 lại Cairo, Hội nghị quửc tế vé phụ nữ năm 1995 tại Bắc Kinh và “Chiến lược quốc gia vẻ chám sóc sức khoé sinh sản giai đoạn 2001- 2010” tại Việt Nam là những nội dung quan trọng nhàm dảm bậo sức khóc cùa bà mẹ và sự phát tnốn cùa thai nhi, giúp cho mỗi cuộc thai nghén đều được kết thúc tớt đẹp. Nội dung thực hiện trong chăm sóc trước sinh. Chăm sóc trước sinh là những chăm sóc sản khoa cho người phụ nừ tính từ thời điểm có thai cho dồn trước khi đó nhầm đám bào cho quá trình mang thai dược an toàn, sinh con khóc mạnh và được chuẩn bị nuôi dưỡng tốt.
Nội dưng chãm sóc trước sinh bao gồm; thực hiện chê độ ãn, uống viên sáựaciđ folic để phòng thiếu máu và thiếà dinh dường khi có thai, chê độ làm việc khi có thai, TPUV và khám thai. Phòng chóng thiếu dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai [13]. Trong thời kỳ cớ thai, người phụ nữ phải ẫn để dám báo dinh dưỡng cho chính ban thân họ và đứa trẻ. Bà mẹ được dinh dưởng tót, cân nặng của bã mẹ Ung 8 đến 12 kg vào tháng cuối trước khi sinh sè đảm bảo không những bản thân họ khỏe mạnh, ít khi phải can thiệp khi đè, hồi phục nhanh sau đè.