Chương 1: Thực trang, nguyên nhân và điều kiện phạm tội làm hàng giả và tội buôn bán hàng giả. - Chương 2: Các quy định pháp luật hình sự về tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả và thực tiễn hướng dẫn, áp dụng các quy định này. - Chương 3: Các kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả phòng chống tội làm hàng giả và tội buôn bán hàng giả. - Phần kết luận.
- Danh mục tài liệu tham khảo. |5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CUU Cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin và phép biện chứng duy vật và tư tưởng Hồ Chí Minh. Phương phóp cụ thé: Tác giả đùng phương pháp phân tích luật và thực tiễn áp dụng luật; tổng hợp thông tin để đánh giá tình hình tội phạm về hàng giả, ngoài ra tác giả cũng sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu các quan điểm pháp lý hiện nay về vấn đề này của pháp luật nước ngoài để rút ra những kinh nghiệm về lý luận và thực tiễn hướng tới việc bổ sung, hoàn thiện Luật hình sự Việt Nam. Bên cạnh đó, tác giả cũng sẽ sử dụng các phương pháp khác như thống kê, lịch sử, điều tra xã hội học.
ĐIỂM MỚI VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN Điểm mới của luận án thể hiện ở việc tác giả trình bày một cách tương đối có hệ thống và toàn diện về tội làm hàng giả và tội buôn bán hàng giả trên phương diện luật hình sự và tội phạm học. Tác giả mong muốn đưa ra một bức tranh toàn cảnh về loại tội phạm này, từ góc độ luật hình sự cũng như thực tiễn có tính thời sự nóng hổi. Qua việc đánh giá thực trạng, nguyên nhân và điều kiện phạm tội cũng như phân tích các quy định của Bộ luật hình sự về tội làm hàng giả và tội buôn bán hàng giả, tác giả đưa ra các đề nghị về sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Luật hình sự và các biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm này. Trong qua trình nghiên cửu va hoàn thành luận án, chúng tôi da nhận được sự giúp đỡ tận tình va quý báu của thay Uông Chu Lưu, PTS.
Luật hoc, Thứ trưởng Bộ Tư phap, Vụ trưởng Vu pháp luật Hành chính - Hình sự; các thày cô giáo, các đồng nghiệp khoa Sau dai học, Dai học Luật Hà Nội, cũng như các cơ quan nghiên cứu cua Bộ Tư pháp; Toà án nhân dân Tôi cao. Chúng tôi xin chân thành cam on sự giúp đỡ quý báu nay! TÁC GIÁ LUẬN ÁN D6 Thị Lan CHUONG 1 THUC TRANG, NGUYEN NHÂN VA DIEU KIEN PHAM TOI LAM HANG GIA VA TOI BUON BAN HANG GIA 1. TINH HÌNH TOI PHAM LAM HÀNG GIA VA TOI PHAM BUON BAN HANG GIA 1. Thực trang tội lam hang gia, tội buôn bán hang gia Bang 1: Thong kê tội làm hàng gia va tội buôn bán hang gia trong phạm vi cả nước (1993-1997) 0 kites Số vụ an đã xét xử Số bị cáo Số vụ Tỷ lệ % Số người Tỷ lệ % 1993 223 100 399 100 1994 183 82,06 302 75,69 1995 147 65,91 276 69,17 1996.
159 71,3 281 70,43 di eS re en a a a eT, Hing | mm. phạm vi cả nước về các tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả (được quy định tại Điều 167 Bộ luật hình sự) từ năm 1993 đến năm 1997. Qua bang thống kê thấy rằng tình hình tội phạm hang giả và buôn bán hàng giả nhìn chung có xu hướng giảm nhưng không đều và ổn định. Từ năm 1993 đến 1995, số vụ và số người phạm tội giảm xấp xỉ 17%, a a ^? AT} SA ^^“ a N ‘ ˆ^ ` Nguồn: Tổng hợp số liệu thống bê của Toa an nhân dân Tôi cao.
đến năm 1996, số vụ tăng hơn 6% và số người phạm tội tăng hơn 1%. Nhưng đến năm 1997, số vụ giảm xấp xi 9% và số người giảm 11%. Hang năm trung bình có 170 vụ án đã xét xử và có 299 bị gã thuộc các tội này. Tuy số vụ án cũng như số bị cáo thuộc các tội làm hàng giả và buôn bán hang gia theo số liệu thống kê là có giảm, song thực chất tình hình của các tội phạm này vẫn đang tồn tại ở mức độ nghiêm trọng.
Điều đó thể hiện ở tính chất nguy hiểm cao, quy mô, mức độ phạm tội của các vụ phạm tội. Đơn cử một vụ án đã xét xử về các tội này để thấy rõ tính chất nghiêm trọng của nó. Theo bản án số 1090/HSPT ngày 4/7/1997, Vũ Tiến Đạt và đồng bọn trong thời gian dài sản xuất nhiều loại thuốc thú y với số lượng trên 60.000 chai loại 100”, tổng giá trị tài sản gần 467.000 đồng, dán mác của cơ quan Nhà nước. Hành vi làm hàng giả của y với số lượng rất lớn, đem tiêu thụ để thu lợi bất chính.
Tuy nhiều loại thuốc đạt tiêu chuẩn chất lượng nhà nước cho phép, nhưng hàng giả ở đây mạo nhận là hàng nhà nước, lại do Đạt nguyên là giám đốc Công ty chăn nuôi thú y Cai Lay,.tinh Tiền Giang trực tiếp dùng công thức chế biến, vốn lẽ phải giao hết cho công ty, nhưng y đã trực tiếp chỉ đạo, tổ chức đồng bọn sản xuất tai nhà riêng rồi đem di tiêu thụ trên thị trường, gây thiệt hại cho công ty. Án sơ thẩm xử phạt y 15 năm tù giam cho hành vị "Jam hàng gid", các bị cáo khác bị phạt từ cai tạo không giam giữ đến 5 năm tù giam về tội này. Khi nghiên cứu thống kê tội phạm nói chung cũng như tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả cần lưu ý đến tội pham ẩn. Việc đánh giá về tình hình tội phạm đã quy định trong Bộ luật hình sự thường chủ yếu dựa 10 vào số liệu thong kê về những tội phạm đã được phát hiện, điều tra và xử lý.
Thực tế con số đó chỉ phản ánh một phần của tổng sô những tội phạm đã xảy ra. Có nhiều nguyên nhân khiến các cơ quan pháp luật không thể nắm bắt được, chưa phát hiện được, chưa xử lý về hình sự một phần quan trọng khác của thực tế tội phạm nên con số đó không có trong thống kê. Đó là tội phạm ẩn. Trong những năm gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng liên tục đưa tin về tệ nạn hàng giả tại Việt Nam, rung lên một hồi chuông báo động về các tội phạm sản xuất và tiêu thụ hàng giả, gây nhiều thiệt hại khôn lường, nhiều lúc nhiều nơi đã lên "cơn sốt hàng giả".
Điểm qua một vài con số thống kê về vi phạm làm hàng giả và mua bán hàng giả (trong đó chỉ có một phần nhỏ bị xử lý về hình sự) sẽ thấy rằng tội phạm ẩn của các loại tội này là khá cao. Theo Báo cáo về công tác chống sản xuất và buôn bán hàng giả ngày 24/4/1998 của Bộ thương mại, chỉ tính riêng quý I năm 1998, lực lượng Quản lý thị trường cả nước đã kiểm tra và xử lý 1757 vụ, lực lượng Cảnh sát kinh tế năm 1997 và quý I năm 1998 phát hiện 815 vụ, trong đó mới khởi tố 53 vụ. Năm 1997, lực lượng Quản lý thị trường thành phố Hồ Chí Minh đã kiểm tra, phát hiện 448 vụ vi phạm sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, trong đó có 286 vụ (63,8%) sản xuất, kinh doanh hàng nông sản, thực phẩm giả”. Một nguyên nhân đáng kể khiến cho tội phạm ẩn của các loại tội này khá cao là người tiêu dùng khi mua hoặc dùng phải hàng "đởm” thường chỉ kêu ca, phàn nàn, mà ít khi sử dụng những biện pháp pháp lý TM Xem: Tham luận tại Hội thảo Việt - Pháp “Những thách thức va co hội bình tế trong dau tranh chống hang giả vé nông sản, thực phâm” của Dai tá Nguyễn Văn Trị - Phó cục (tưởng Cục CSKT, Hà Nội, 22-23/7/1998.
li cần thiết như khiếu kiện, tố cáo với các cơ quan hữu trách để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Như vậy, thực trạng vi phạm về sản xuất và buôn bán hàng giả là rất phức tạp và nghiêm trọng, song con số thống kê về tội phạm làm và buôn bán hang gia đã nêu trong Bảng 1 cho thấy rằng chủ yếu các vụ việc vi phạm bị xử lý bằng các biện pháp khác (tịch thu hàng, phạt tiền, cảnh cáo "cho qua") nên xử lý về hình sự không nhiều. Đó là chưa kể đến con số vụ việc vi phạm được phát hiện trong vấn đề này còn nhỏ so với vi phạm xay ra trên thực tế. Vì thế, qua số liệu thống kê và thực trạng tội phạm ẩn của loại tội phạm này cùng với những lý do ẩn của chúng có thể nói rằng thực trạng các tội làm hàng giả và buôn bán hàng giả ở nước ta là nghiêm trọng.
Cơ cấu tội phạm làm hàng giả, tội phạm buôn bán hàng giả Bảng 2: So sánh tội phạm làm hàng giả, tội phạm buôn bán hàng giả và tinh hình phạm tội chung từ 1993 - 1997? Năm Số vụ tội phạm Số người phạm tội TP chung | Tội LHG, | Tỷlệ% | TP chung | Tội LHG, | Tỷ lệ % BBHG BBHG 1993 30219 223 0,74 47237 399 0,84 1994 31195 183 0,59 47822 302 0,63 1995 32722 147 0,45 54088 276 0,51 1996 40607 159 0,39 62494 281 0,45 1997 42440 139 0,33 65495 237 0,36 Tổng 177183 | 884 0.48 279136 1495 55 ` Nguồn: Tổng hợp số liệu thông bê của Tòa án nhân dan Téi cao. Bang 2 cho thấy số vu tội phạm đã xét xử về các tội làm hang giả và buôn bán hàng giả chiếm 0,48% số vụ phạm tội nói chung và số người đã bị xét xử về các tội này chiếm 0,53% số người phạm tội nói chung. Trong đó, đáng lưu ý năm 1993, số vụ và số người phạm tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả chiếm tỷ lệ cao hơn cả so với số vụ và số người phạm tội nói chung từ năm 1993 tới năm 1997. Mức ty lệ chiếm trong số người và số vụ phạm tội nói chung của tội làm hàng giả và tội buôn bán hàng giả giảm dần theo các năm này.
Trong xu thế tăng đần của các vụ phạm tội nói chung thì số vụ phạm tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả theo thống kế lại giảm dần. Có ý kiến cho rằng: Có thể số liệu trong thống kê chưa phản ánh đúng thực trạng vi phạm pháp luật hình sự trên thực tế về các tội này, nhưng cũng có ý kiến cho rằng: Điều đó chứng tỏ việc đấu tranh phòng chống các tội về hàng giả trong những năm qua đã phát huy hiệu quả. Theo chúng tôi cần phải lưu ý cả hai ý kiến này.