Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình chuyển dịch phương thức chăn nuôi truyền thống sang hình thức nuôi công nghiệp, các giống lợn ngoại nhập khẩu đang được phát triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về số lượng và chất lượng thịt trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, đàn lợn nái ngoại khi nuôi trong điều kiện khí hậu nhiệt đới tại Việt Nam thường có khả năng thích nghi hạn chế, dẫn đến tỷ lệ mắc các bệnh về đường sinh sản ở mức cao. Trong quá trình sinh nở, đường sinh dục mở tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật cơ hội như Streptococcus, Staphylococcus, Escherichia coli (E. coli), Salmonella xâm nhập, gây nên các hội chứng nhiễm trùng sau đẻ, viêm âm hộ, viêm âm đạo và đặc biệt là viêm tử cung. Bệnh lý này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe sinh sản của lợn mẹ, làm suy giảm chất lượng giống, mà còn dễ kế phát hội chứng viêm vú - viêm tử cung - mất sữa (MMA), viêm phúc mạc, làm chậm chu kỳ động dục, gây vô sinh hoặc chết, gây tổn thất kinh tế trực tiếp cho các cơ sở chăn nuôi.

Xuất phát từ thực tiễn sản xuất tại cơ sở, khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Hoàng Thị Dượng (chuyên ngành Thú y, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của ThS. Dương Thị Hồng Duyên) đã được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ khoa học cụ thể:

  • Mục đích nghiên cứu:

    1. Đánh giá thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi theo mô hình trang trại tại trại lợn Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
    2. Đưa ra và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nhằm tìm ra giải pháp can thiệp hiệu quả trong điều kiện sản xuất thực tế.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

    1. Khảo sát tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo các tháng trong năm (từ tháng 7 đến tháng 11).
    2. Xác định ảnh hưởng của yếu tố giống đến tỷ lệ mắc bệnh giữa hai giống lợn ngoại thuần (Landrace và Yorkshire).
    3. Đánh giá tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung phân bố theo các lứa đẻ (từ lứa 1 đến lứa 6).
    4. Theo dõi tỷ lệ lợn mắc bệnh viêm tử cung qua hai giai đoạn sinh sản: giai đoạn chờ phối và giai đoạn sau khi đẻ.
    5. Xác định các chỉ tiêu lâm sàng đặc trưng của lợn nái bị viêm tử cung so với lợn bình thường.
    6. Đánh giá mối quan hệ giữa hiện tượng lợn mẹ bị viêm tử cung với tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn con theo mẹ.
    7. Thử nghiệm so sánh hiệu lực điều trị của 3 phác đồ sử dụng kháng sinh kết hợp thụt rửa tử cung và thuốc kích thích co bóp cơ trơn.
  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái ngoại đang trong giai đoạn sinh sản (gồm 180 cá thể thuộc hai giống Landrace và Yorkshire); đàn lợn con sinh ra từ lợn mẹ khỏe mạnh và lợn mẹ mắc bệnh viêm tử cung.

  • Phạm vi nghiên cứu:

    • Không gian: Trại lợn Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
    • Thời gian: Từ ngày 25/5/2015 đến ngày 26/11/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các nguyên lý sinh lý học sinh sản gia súc và bệnh học ngoại khoa - sản khoa thú y:

  • Cơ sở giải phẫu và sinh lý sinh dục lợn nái: Mô tả chi tiết cấu tạo hệ sinh dục cái gồm buồng trứng (Ovarium), ống dẫn trứng (Oviductus), tử cung (Uterus gồm sừng tử cung dài 30 - 50 cm, thân tử cung ngắn và cổ tử cung có các gờ thịt xen kẽ dạng răng lược), âm đạo (Vagina) và âm hộ (Vulva). Chu kỳ tính ở lợn nái kéo dài từ 18 đến 22 ngày (trung bình 21 ngày), trải qua 4 giai đoạn: trước động dục (1 - 2 ngày), động dục (2 - 3 ngày), sau động dục (khoảng 2 ngày) và yên tĩnh (10 - 12 ngày). Quá trình này được điều hòa bởi trục thần kinh - thể dịch thông qua các kích tố tuyến yên như hormone kích thích bao noãn (FSH), hormone tạo hoàng thể (LH) và hormone buồng trứng gồm estrogen và progesterone. Quá trình sinh đẻ chịu sự tác động cơ giới khi thai thành thục kết hợp với việc giảm nồng độ progesterone (xuống mức 0,22%), tăng tiết oxytocin từ tuyến yên và relaxin từ nhau thai làm mở cổ tử cung, giãn dây chằng chậu.
  • Phân loại bệnh học viêm tử cung: Theo hệ thống phân loại của Đặng Đình Tín (1985), bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm 3 thể lâm sàng:
    • Viêm nội mạc tử cung (Endometritis): gồm thể cata cấp tính có mủ (Endometritis puerperalis) gây tổn thương niêm mạc, thải dịch mủ trắng xám hoặc trắng sữa, mùi tanh, con vật đau nhẹ, giảm ăn; và thể màng giả có tổn thương hoại tử sâu vào tầng cơ, sốt cao, mất sữa, dịch viêm lẫn máu và mảnh mô chết.
    • Viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis): vi khuẩn xâm nhập sâu vào mô cơ gây hoại tử, dịch thẩm xuất màu hồng hoặc nâu đỏ, mùi tanh thối, con vật đau đớn dữ dội, rặn liên tục, bỏ ăn hoàn toàn, thành tử cung dày cứng khi khám trực tràng.
    • Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis puerperalis): lớp tương mạc đỏ sẫm, mất bóng, dịch viêm màu nâu rỉ sắt, mùi thối khắm, dễ kế phát viêm phúc mạc, nhiễm trùng huyết.

Bảng phân biệt các thể viêm tử cung dựa trên chỉ tiêu lâm sàng được tác giả tổng hợp:

STT Chỉ tiêu phân biệt Viêm nội mạc tử cung Viêm cơ tử cung Viêm tương mạc tử cung
1 Màu sắc dịch viêm Trắng xám, trắng sữa Hồng, nâu đỏ Nâu rỉ sắt
2 Mùi dịch viêm Tanh Tanh thối Thối khắm
3 Phản ứng đau Đau nhẹ Đau rõ Đau rất rõ
4 Hiện tượng bỏ ăn Bỏ ăn một phần hoặc hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn
  • Dược lý học các hoạt chất sử dụng trong điều trị:

    • Nor 100: Dung dịch tiêm chứa hoạt chất norfloxacin hàm lượng 10.000 mg/100 ml.
    • Vetrimoxin LA (Pháp): Hỗn dịch tiêm tác dụng kéo dài chứa amoxycillin trihydrate hàm lượng 15 g/100 ml.
    • Hamogen (Havet): Hỗn dịch tiêm kết hợp amoxycillin (150 mg/ml), gentamycin (40 mg/ml) và dexamethason acetate (0,25 mg/ml).
    • Kích dục tố và thuốc trợ lực co bóp cơ trơn: Oxytocin (10 UI/ml) kích thích co bóp cơ trơn tử cung tống sản dịch và kích thích tiết sữa; Lutalyse chứa Dinoprost (Prostaglandin F2α tự nhiên, hàm lượng 25 mg/2 ml) có tác dụng tiêu hủy thể vàng tồn lưu, kích thích mở cổ tử cung và tăng cường co bóp cơ trơn tử cung.
    • Dung dịch sát trùng và kháng sinh đặt tại chỗ: Dung dịch thuốc tím (KMnO4) nồng độ loãng; dung dịch Lugol (dung dịch iod); kháng sinh Cephachlor pha nước cất bơm trực tiếp vào xoang tử cung.
  • Phương pháp nghiên cứu thực địa và bố trí thí nghiệm:

    • Phương pháp dịch tễ học mô tả: Trực tiếp theo dõi 180 lợn nái ngoại sinh sản trong toàn bộ thời gian thực tập tại trại, ghi nhận sự xuất hiện triệu chứng viêm tử cung theo tháng, theo giống, theo lứa đẻ và theo giai đoạn sinh sản.
    • Phương pháp khảo sát lâm sàng: Lập 2 lô theo dõi đối chứng gồm Lô 1 (38 nái bị viêm tử cung) và Lô 2 (20 nái bình thường không mắc bệnh) để theo dõi các chỉ tiêu thân nhiệt, trạng thái ăn uống, tính chất dịch viêm và phản xạ đau. Đồng thời theo dõi đàn con sinh ra từ hai nhóm lợn mẹ này để xác định tỷ lệ mắc tiêu chảy.
    • Phương pháp thử nghiệm lâm sàng: Tiến hành phân lô so sánh ngẫu nhiên trên 38 nái mắc bệnh để kiểm chứng 3 phác đồ điều trị trong thời gian 3 - 5 ngày:
      • Phác đồ 1 (13 nái): Tiêm bắp Nor 100 (20 ml/con/ngày) + Oxytocin (2 ml/con/ngày) + Thụt rửa tử cung bằng thuốc tím (1 lần/ngày) + Bơm xoang tử cung Cephachlor pha trong 100 ml nước cất (1 lần/ngày).
      • Phác đồ 2 (12 nái): Tiêm bắp Hamogen (20 ml/con/ngày) + Tiêm bắp Lutalyse (2 ml/con, tiêm 1 liều duy nhất) + Thụt tử cung 500 ml dung dịch Lugol + Bơm Cephachlor pha trong 100 ml nước cất (1 lần/ngày).
      • Phác đồ 3 (13 nái): Tiêm bắp Vetrimoxin LA (20 ml/con/lần) + Oxytocin (2 ml/con/ngày) + Thụt tử cung 500 ml dung dịch Lugol + Bơm Cephachlor pha trong 100 ml nước cất (1 lần/ngày).
    • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thu thập được tính toán theo các công thức tỷ lệ mắc, tỷ lệ khỏi, thời gian điều trị trung bình và xử lý theo phương pháp thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi thú y (Nguyễn Văn Thiện, 2008) trên phần mềm Microsoft Excel 2003.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu rõ tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh công nghiệp hóa ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam. Khẳng định bệnh viêm tử cung là rào cản lớn đối với năng suất sinh sản của đàn nái ngoại nhập khẩu do sự mẫn cảm với môi trường và nguy cơ nhiễm khuẩn trong khâu đỡ đẻ. Đề tài xác định rõ 2 mục đích nghiên cứu và khẳng định ý nghĩa thực tiễn trong việc cung cấp cơ sở khoa học cho công tác phòng trị bệnh tại các trang trại chăn nuôi tập trung.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết có hệ thống các tài liệu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài. Tác giả trình bày chi tiết về cấu tạo giải phẫu, đặc điểm sinh lý sinh dục lợn nái, cơ chế rụng trứng, chu kỳ động dục và sinh lý đẻ. Đồng thời, văn bản phân tích sâu các nguyên nhân gây bệnh viêm tử cung (sai sót dinh dưỡng, quản lý chuồng trại, thao tác thụ tinh nhân tạo gây sây sát, sót nhau, nhiễm khuẩn chéo từ đực giống) và hậu quả nghiêm trọng của bệnh (PGF2α tiết nhiều gây tiêu thể vàng dẫn đến sảy thai; độc tố vi khuẩn E. coli ức chế prolactin làm mẹ mất sữa dẫn đến lợn con tiêu chảy; thể vàng tồn lưu ức chế tiết LH gây vô sinh). Chương này cũng phân loại 3 thể bệnh (viêm nội mạc, viêm cơ, viêm tương mạc), tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng và tổng quan các thuốc điều trị. Tình hình nghiên cứu trên thế giới (dẫn chứng nghiên cứu của Madec & Neva 1995, Winson, Kaminski) và tại Việt Nam (Trần Tiến Dũng, Nguyễn Đức Lưu, Đặng Đình Tín) được tổng hợp để định vị khoảng trống thực tiễn mà đề tài cần giải quyết.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày cụ thể quy mô nghiên cứu gồm 180 nái ngoại sinh sản và đàn con theo mẹ tại trại Đặng Đình Dũng (Lương Sơn, Hòa Bình) từ ngày 25/5/2015 đến 26/11/2015. Quy định chi tiết các chỉ tiêu theo dõi dịch tễ (5 tháng theo dõi từ tháng 7 đến tháng 11; 2 giống Yorkshire và Landrace; 6 lứa đẻ; 2 giai đoạn chờ phối và sau đẻ). Mô tả thiết kế thí nghiệm phân lô đánh giá lâm sàng (38 nái bệnh so với 20 nái khỏe) và thử nghiệm 3 phác đồ điều trị trên 38 nái bệnh (13 nái ở phác đồ 1, 12 nái ở phác đồ 2, 13 nái ở phác đồ 3). Xác lập đầy đủ các công thức toán học xác định tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ khỏi và thời gian khỏi bệnh trung bình.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nội dung chương này chia thành hai phần lớn:

1. Công tác phục vụ sản xuất tại trang trại: Tác giả trực tiếp tham gia và mô tả chi tiết quy trình an toàn sinh học, chăm sóc nuôi dưỡng theo tiêu chuẩn trại CP:

  • Vệ sinh, khử trùng: Phun sát trùng Ommicide 2 lần/ngày (tỷ lệ 320 ml/1000 lít nước); rắc vôi bột khuôn viên 2 lần/tuần; ngâm tấm đan chuồng đẻ trong dung dịch NaOH 10% trong 1 ngày; xả dung dịch vôi 20% xuống gầm chuồng.
  • Chế độ dinh dưỡng: Nái chửa từ tuần 1 - 12 ăn thức ăn 566 (1,5 - 2 kg/con/ngày); tuần 13 - 14 ăn thức ăn 566 (2,5 - 3 kg/con/ngày); tuần 15 trở đi ăn thức ăn 567SF (3,5 - 4 kg/con/ngày). Lợn con từ 4 - 6 ngày tuổi tập ăn thức ăn hoàn chỉnh 550SF.
  • Thực hiện lịch tiêm phòng vaccine (M+Pac, Porcilis PRRS, Porcilis Parvo, Porcilis CSF Live, FMD, Porcilis Begonia) và thuốc phòng bệnh (NAODEX tiêm sắt, Hitamox LA, Neococxin phòng cầu trùng, Amlistin, Indectin tẩy ký sinh trùng, Han-prost, Hiphavit-ADE forte).
  • Kết quả công tác lâm sàng phục vụ sản xuất: Điều trị khỏi bệnh phân trắng lợn con đạt 94,28% (66/70 con); điều trị khỏi 100% đối với bệnh lở mồm long móng (65 con), viêm khớp (7 con), cầu trùng (20 con), viêm phổi (46 con) và viêm tử cung (38 con). Thực hiện các thủ thuật mài nanh, cắt đuôi, bấm tai cho 781 con, thiến 175 lợn đực và xuất chuồng 400 lợn con an toàn tuyệt đối.

2. Thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái:

  • Tỷ lệ mắc theo tháng: Theo dõi 180 nái trong 5 tháng ghi nhận 38 nái mắc bệnh, tỷ lệ trung bình là 21,11%. Bệnh xuất hiện cao nhất vào tháng 7 (30,00% - 9/30 con) và tháng 10 (25,00% - 10/40 con). Các tháng 8, 9 và 11 có tỷ lệ mắc ổn định hơn, dao động từ 17,14% đến 17,50%. Nguyên nhân do tháng 7 và tháng 10 có sự thay đổi thời tiết đột ngột (nóng ẩm mưa nhiều hoặc chuyển lạnh), tạo điều kiện cho vi sinh vật bùng phát.
Tháng theo dõi Số nái kiểm tra (con) Số nái mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc (%)
Tháng 7 30 9 30,00
Tháng 8 35 6 17,14
Tháng 9 35 6 17,14
Tháng 10 40 10 25,00
Tháng 11 40 7 17,50
Tổng cộng 180 38 21,11
  • Tỷ lệ mắc theo giống: Đàn nái Landrace có tỷ lệ mắc là 20,00% (7/35 con), đàn nái Yorkshire có tỷ lệ mắc là 21,37% (31/145 con). Khảo sát cho thấy không có sự chênh lệch đáng kể giữa hai giống do cả hai đều là giống ngoại thuần có nguồn gốc ôn đới, mức độ thích nghi tương đương nhau, thai to đòi hỏi can thiệp cơ giới khi đẻ.
Giống lợn Số nái kiểm tra (con) Số nái mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc (%)
Landrace 35 7 20,00
Yorkshire 145 31 21,37
Tính chung 180 38 21,11
  • Tỷ lệ mắc theo lứa đẻ: Tỷ lệ viêm tử cung biến động mạnh qua các lứa. Lợn đẻ lứa 1 có tỷ lệ mắc cao đạt 26,47% (9/34 con) do đường sinh dục chưa hoàn thiện đầy đủ, lợn rặn đẻ yếu và công nhân phải can thiệp móc thai nhiều. Ở lứa 2 tỷ lệ giảm xuống 15,00% (3/20 con) và thấp nhất ở lứa 3 với 11,53% (3/26 con). Tỷ lệ bắt đầu tăng ở lứa 4 (16,00% - 4/25 con) và tăng mạnh ở lứa 5 đạt 25,71% (9/35 con), lứa 6 đạt 25,00% (10/40 con) do cơ quan sinh dục của nái đã thoái hóa, giảm trương lực cơ tử cung, thời gian đẻ kéo dài.
Lứa đẻ Số nái theo dõi (con) Số nái mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc (%)
Lứa 1 34 9 26,47
Lứa 2 20 3 15,00
Lứa 3 26 3 11,53
Lứa 4 25 4 16,00
Lứa 5 35 9 25,71
Lứa 6 40 10 25,00
Tổng cộng 180 38 21,11
  • Thử nghiệm điều trị: Toàn bộ 38 nái mắc bệnh được điều trị theo 3 phác đồ đều cho kết quả khỏi bệnh 100% trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 ngày, chứng minh tính phù hợp của các liệu trình kết hợp kháng sinh toàn thân, thụt rửa đường sinh dịch và thuốc kích thích co bóp tử cung.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng hợp về tình hình dịch tễ, các yếu tố ảnh hưởng và hiệu lực điều trị; đồng thời nêu kiến nghị cụ thể cho cơ sở chăn nuôi về công tác vệ sinh chuồng trại, kiểm soát tiểu khí hậu và quy trình can thiệp sản khoa.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả thực nghiệm và số liệu định lượng chính:

    • Đã xác định được tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trung bình trên đàn lợn nái ngoại nuôi công nghiệp tại trại Đặng Đình Dũng là 21,11% (38/180 nái).
    • Yếu tố thời tiết có tác động rõ rệt đến tỷ lệ mắc bệnh: cao nhất vào tháng 7 (30,00%) và tháng 10 (25,00%), thấp nhất vào tháng 8 và tháng 9 (17,14%).
    • Yếu tố giống ngoại thuần (Landrace 20,00% so với Yorkshire 21,37%) không tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về khả năng mẫn cảm với bệnh.
    • Tỷ lệ mắc bệnh theo lứa đẻ tuân theo quy luật hình chữ U: cao ở nái đẻ lứa đầu (26,47%), giảm thấp nhất ở lứa đẻ thứ 3 (11,53%), sau đó tăng cao trở lại ở các nái lứa 5 (25,71%) và lứa 6 (25,00%).
    • Cả 3 phác đồ điều trị thử nghiệm (kết hợp Nor 100, Hamogen hoặc Vetrimoxin LA với Oxytocin/Lutalyse, dung dịch thụt rửa KMnO4/Lugol và kháng sinh Cephachlor đặt xoang tử cung) đều đạt tỷ lệ khỏi bệnh 100% sau 3 - 5 ngày can thiệp.
  • Các giải pháp và khuyến nghị kỹ thuật do tác giả đề xuất:

    • Tăng cường quản lý tiểu khí hậu chuồng nuôi: chống nóng bằng hệ thống phun sương mái kết hợp quạt thông gió trong mùa hè; che chắn và sưởi ấm bằng đèn điện trong mùa lạnh nhằm giảm stress cho đàn nái.
    • Kiểm soát nghiêm ngặt kỹ thuật đỡ đẻ: hạn chế tối đa việc can thiệp móc thai bằng tay; trường hợp bắt buộc can thiệp phải sát trùng tay và dụng cụ triệt để; thực hiện vệ sinh thụt rửa đường sinh dục sau khi đẻ.
    • Duy trì nghiêm ngặt quy trình vệ sinh tiêu độc chuồng trại theo định kỳ: phun sát trùng Ommicide, ngâm đan chuồng bằng NaOH 10%, quét và xả nước vôi 20% xuống gầm chuồng.
    • Áp dụng linh hoạt các phác đồ điều trị đã thử nghiệm ngay khi phát hiện triệu chứng lâm sàng ở thời kỳ mở cổ tử cung để rút ngắn thời gian điều trị và ngăn ngừa kế phát hội chứng MMA.
  • Đóng góp khoa học của đề tài: Khóa luận cung cấp các dẫn liệu dịch tễ học thực địa chính xác về bệnh viêm tử cung trên đàn nái ngoại nuôi tại tỉnh Hòa Bình, bổ sung cơ sở khoa học cho tài liệu bệnh lý sinh sản gia súc và cung cấp các phác đồ điều trị đối chứng có tính khả thi cao cho người chăn nuôi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:

    • Nghiên cứu được tiến hành trên phạm vi một cơ sở chăn nuôi đơn lẻ (trại lợn Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình) với quy mô mẫu giới hạn (180 nái), thời gian theo dõi thực địa trong vòng 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 11/2015), chưa bao quát toàn bộ chu kỳ thời tiết cả năm.
    • Đề tài dừng lại ở mức độ chẩn đoán lâm sàng và dịch tễ học mô tả, chưa tiến hành lấy mẫu bệnh phẩm để nuôi cấy, phân lập và định danh chính xác các loài vi khuẩn gây bệnh trong phòng thí nghiệm; chưa thực hiện kháng sinh đồ nhằm xác định mức độ mẫn cảm và kháng thuốc của vi khuẩn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu trên nhiều hệ thống trang trại chăn nuôi công nghiệp với các quy mô và điều kiện chuồng trại khác nhau tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc.
    • Kết hợp nghiên cứu vi sinh học chuyên sâu: phân lập vi khuẩn từ dịch viêm tử cung, xác định các chủng vi khuẩn chủ đạo và thử nghiệm kháng sinh đồ để tối ưu hóa phác đồ điều trị, hạn chế hiện tượng kháng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn hữu ích đối với:

  • Sinh viên chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tế về phương pháp bố trí thí nghiệm dịch tễ học thú y, kỹ thuật chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung và quy trình điều trị lâm sàng trên đàn nái.
  • Cán bộ kỹ thuật và chủ trang trại chăn nuôi lợn sinh sản: Có thể trực tiếp áp dụng quy trình an toàn sinh học, lịch phòng bệnh bằng vaccine/thuốc và các công thức phối hợp kháng sinh - hormone (Oxytocin, Lutalyse, Nor 100, Hamogen, Vetrimoxin LA, Cephachlor) để phòng và điều trị bệnh viêm tử cung, nâng cao năng suất đàn nái.
  • Các phần nội dung đáng tham khảo nhất trong văn bản: Bảng tiêu chí phân biệt lâm sàng 3 thể viêm tử cung (Bảng 2); Bảng lịch trình sát trùng và phòng bệnh bằng vaccine/thuốc theo tiêu chuẩn công nghiệp (Bảng 4.2 và 4.3); Quy trình thử nghiệm so sánh 3 phác đồ điều trị kết hợp thụt rửa tại chỗ.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trung bình trên đàn lợn nái ngoại tại trại Đặng Đình Dũng là bao nhiêu và biến động cao nhất vào những tháng nào? Kết quả theo dõi trên 180 lợn nái ngoại ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trung bình là 21,11% (38 cá thể mắc). Bệnh xuất hiện cao nhất vào tháng 7 (30,00%) và tháng 10 (25,00%) do thời điểm này thời tiết thay đổi đột ngột giữa nóng ẩm và chuyển lạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập và bùng phát.

2. Giống lợn Landrace và Yorkshire tại trại có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung hay không? Không có sự khác biệt rõ rệt giữa hai giống. Tỷ lệ mắc bệnh ở đàn nái Landrace là 20,00% (7/35 con) và ở đàn nái Yorkshire là 21,37% (31/145 con). Tác giả lý giải cả hai đều là giống lợn ngoại có nguồn gốc ôn đới, mức độ thích nghi với điều kiện khí hậu nhiệt đới tương đương nhau và đều có đặc điểm thai to khiến quá trình đẻ dễ phải can thiệp cơ giới.

3. Lứa đẻ nào ở lợn nái có tỷ lệ mắc viêm tử cung cao nhất và thấp nhất theo số liệu điều tra? Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất xuất hiện ở lứa đẻ 1 (26,47%) và lứa đẻ 5 (25,71%), tiếp đến là lứa 6 (25,00%). Tỷ lệ mắc thấp nhất được ghi nhận ở lứa đẻ 3 (11,53%). Nguyên nhân lứa 1 mắc cao do đường sinh dục chưa phát triển hoàn thiện, lợn rặn đẻ yếu dẫn đến can thiệp móc thai nhiều; trong khi các lứa đẻ cao (lứa 5, lứa 6) mắc nhiều do cơ quan sinh dục thoái hóa, giảm trương lực cơ tử cung.

4. Thành phần thuốc và phương thức can thiệp của 3 phác đồ điều trị thử nghiệm trong khóa luận gồm những gì? Cả 3 phác đồ đều kết hợp tiêm kháng sinh toàn thân, tiêm thuốc co bóp tử cung và thụt rửa xoang tử cung trong 3 - 5 ngày:

  • Phác đồ 1: Tiêm bắp Nor 100 (norfloxacin 20 ml/con/ngày) + Oxytocin (2 ml/con/ngày) + Thụt rửa dung dịch thuốc tím (1 lần/ngày) + Bơm xoang tử cung Cephachlor pha 100 ml nước cất (1 lần/ngày).
  • Phác đồ 2: Tiêm bắp Hamogen (amoxycillin + gentamycin + dexamethason 20 ml/con/ngày) + Tiêm bắp Lutalyse (2 ml/con, 1 liều duy nhất) + Thụt tử cung 500 ml dung dịch Lugol + Bơm xoang tử cung Cephachlor pha nước cất (1 lần/ngày).
  • Phác đồ 3: Tiêm bắp Vetrimoxin LA (amoxycillin tác dụng kéo dài 20 ml/con/lần) + Oxytocin (2 ml/con/ngày) + Thụt tử cung 500 ml dung dịch Lugol + Bơm xoang tử cung Cephachlor pha nước cất (1 lần/ngày).

5. Cơ chế nào khiến bệnh viêm tử cung ở lợn mẹ làm gia tăng hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo lý giải của tác giả? Khi lợn nái bị viêm tử cung do vi khuẩn (đặc biệt là vi khuẩn E. coli), vi khuẩn tiết ra nội độc tố ức chế sự phân tiết kích thích tố tạo sữa Prolactin từ tuyến yên của lợn mẹ. Hậu quả làm lợn nái giảm tiết sữa hoặc mất sữa hoàn toàn, đồng thời làm biến đổi thành phần sữa đầu, khiến lợn con theo mẹ thiếu dinh dưỡng, giảm sức đề kháng và dễ mắc hội chứng tiêu chảy, còi cọc.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Dượng đã hoàn thành việc đánh giá thực trạng dịch tễ và triệu chứng lâm sàng của bệnh viêm tử cung trên 180 lợn nái ngoại nuôi tại trại Đặng Đình Dũng (tỉnh Hòa Bình) với tỷ lệ mắc trung bình 21,11%, chỉ ra các quy luật biến động rõ rệt theo tháng và theo lứa đẻ. Nghiên cứu đã xác lập các tiêu chí phân biệt lâm sàng giữa các thể bệnh và thử nghiệm thành công 3 phác đồ điều trị kết hợp kháng sinh toàn thân, thuốc co bóp cơ trơn và thụt rửa tại chỗ với tỷ lệ khỏi bệnh đạt 100%. Kết quả của đề tài cung cấp luận cứ khoa học và quy trình kỹ thuật phòng trị bệnh viêm tử cung thiết thực cho các cơ sở chăn nuôi lợn nái ngoại tập trung.