CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Khái niệm về tính cách và tính cách văn hóa vùng đất Nam bộ 1.1 Tính cách Từ xưa đến nay thời nào cũng vậy, vấn đề con người lúc nào cũng nhận được sự quan tâm và đưa lên hàng đầu; tính đến nay đã có nhiều hệ tư tưởng khác nhau nhằm nghiên cứu vấn đề này. Theo tư tưởng Phật giáo cho rằng: “Con người là sự kết hợp giữa sắc và danh (vật chất và tinh thần). Cuộc sống vĩnh cửu là cõi Niết bàn, nơi linh hồn con người được giải thoát để trở thành bất diệt” [89]. Tư tưởng Phật giáo nghiên cứu con người theo triết lý siêu hình và hướng con người tới cái thiện lương để tìm đến sự giác ngộ.
Tuy nhiên, theo quan điểm Nho giáo thì việc nghiên cứu con người lại đi sâu vào nghiên cứu về bản tính con người. Vì vậy, Mạnh Tử đã đưa ra nhận định rằng: “nhân chi sơ, tính bản thiện” tức là con người khi mới sinh ra đã thiện lương, nhưng do tác động, ảnh hưởng của môi trường sống bên ngoài làm cho con người nhiễm phải những thói hư tật xấu và vì vậy con người cần phải rèn luyện để tu dưỡng đạo đức của mình. Tuy nhiên, Tuân Tử lại cho rằng: “nhân chi sơ tính bản ác” có nghĩa là bản chất con người khi mới sinh ra là đã ác, cần phải cải biến và chống lại cái ác ấy thì con người mới tốt được. Nhưng nhìn chung theo tư tưởng Nho giáo thì nhận định con người một cách tổng quát như sau: Nhân chi sơ, tính bổn thiện; tính tương cận, tập tương viễn.
Cẩu bất giáo, tính nãi thiên; Giáo chi đạo, quý dĩ chuyên.” tức là “Phàm con người ta mới sinh ra đều có cái bản tánh tốt lành. Vì cái tánh lành ấy giống nhau nên giúp họ gần nhau; nhưng khi lớn lên, hòa nhập với xã hội, nhiễm nhiều thói tục ở đời khiến cho tính tình của họ khác đi và thành ra xa nhau. Nếu như con người ta chẳng được giáo dục, dạy dỗ thì tánh lành thuở ban đầu ấy sẽ trở nên thay đổi tùy theo môi trường mà họ 11 tiếp xúc. Về đường lối giáo dục, dạy dỗ con cái thì lấy đức chuyên làm trọng [88].
Còn trong tư tưởng triết học Mác - Lê Nin lại nhận định rằng: “Bản chất của con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”, tức là theo hệ tư tưởng này thì con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội; mà ở đó mặt sinh vật bao gồm có cơ thể sống của con người và các nhu cầu cơ bản, những quy luật sinh học chi phối đến đời sống của cơ thể con người; mặt xã hội là những hoạt động xã hội, đời sống tinh thần của con người sinh sống trong xã hội đó. Vấn đề con người và bản chất con người cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm hàng đầu. Người khẳng định rằng: “… Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền; Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn, Phần nhiều do giáo dục mà nên”. (Nửa đêm – Nhật ký trong tù) Xét trên tổng thể các hệ tư tưởng lớn như: tư tưởng Phật giáo, Nho giáo, Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh thì vấn đề con người, bản chất con người luôn là mối quan tâm hàng đầu.
Con người là chủ thể của mọi hoạt động sống từ các nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ở, đi lại, cho đến việc tham gia vào các quá trình học tập, lao động và giao tiếp hàng ngày mà tính cách con người dần được hình thành và phát triển. Về sau này, theo các nhà nghiên cứu của thế kỷ XX cũng đưa ra những nhận định chung về tính cách con người, như trong Từ điển Bách khoa quyển 4 đã chia tính cách thành 3 loại: Tính cách (ở góc độ giáo dục) là sự kết hợp độc đáo các đặc điểm tâm lý ổn định của từng người. Tính cách có khi gọi là tính nết, là nội dung của hành vi và quy định phương thức hành vi đặc trưng của người đó trong những điều kiện và hoàn cảnh sống nhất định, thể hiện thái độ đã được củng cố trong những phương thức hành vi quen thuộc [14, tr. 12 Tính cách (ở góc độ văn học) là tổng thể những đặc điểm tâm lí của nhân vật biểu hiện trong đời sống, trong cách xử sự và trong thái độ của nhân vật ở các tình huống cụ thể.
Mỗi nhân vật có một tình cảm riêng làm cho nhân vật này phân biệt với các nhân vật khác, xác định được vị trí và chức năng của nó trong cốt truyện của tác phẩm. “Trong tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, nhân vật phải có tình cảm thì mới bảo đảm được tính chân thực, tính sinh động và cao hơn nữa là tính điển hình xã hội sắc nét của nó” [14, tr. Còn như tính cách được xét ở góc độ sân khấu thì: Tính cách (ở góc độ sân khấu) là tổng thể những đặc điểm tâm lí ổn định trong cách xử sự của nhân vật kịch, biểu hiện thái độ điển hình của nhân vật trong những hoàn cảnh điển hình. Được miêu tả thông qua hành động của nhân vật diễn biến trong suốt quá trình xung đột kịch; được cụ thể hóa thông qua hành vi ngôn ngữ (điệu bộ, cử chỉ) [14, tr.
Các loại tính cách này được sắp xếp theo khuynh hướng loại hình: giáo dục, văn học và sân khấu, mỗi loại là một hướng nghiên cứu cụ thể và rõ ràng. Tuy nhiên, một định nghĩa khác về tính cách cũng được nêu ra nhưng không được rõ ràng và cụ thể như vậy: “Tính cách là đặc điểm của từng người hay từng vật làm cho phân biệt được với người hay vật khác” [45, tr. Định nghĩa này khá chung chung và không nêu bật cụ thể là tính cách đó là tính cách của con người hay con vật. “Tính cách là những nét riêng nổi bật vốn có ở mỗi con người, mỗi dân tộc: mỗi con người có một tính cách riêng” [56, tr.1651] hay “Tính cách là tổng thể nói chung những đặc điểm tâm lí ổn định trong cách ứng xử của mỗi người, biểu hiện thái độ điển hình của người đó trong những hoàn cảnh điển hình.
Mỗi người một tính cách” [55, tr. “Theo từ điển triết học của Liên Xô định nghĩa, tính cách là toàn bộ các đặc điểm tâm lý vững bền ở một con người, phụ thuộc vào các điều kiện sinh sống của anh ta và biểu hiện trong các hành vi” [48, tr. Wikipedia tiếng Nga coi “tính 13 cách là cấu trúc của những tính chất tâm lý bền vững, tương đối ổn định, quy định những đặc điểm quan hệ và hành vi của con người” [48, tr. Tóm lại, từ những khái niệm mà các nhà nghiên cứu hiện nay nêu ra về tính cách của con người nói chung có thể thấy rằng, các nhà nghiên cứu này xem tính cách của con người là những đặc điểm nội tâm riêng của người đó và nó ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy, lời nói, hành động mà người đó thể hiện.
Tính cách con người là một thuộc tính tâm lí của cá nhân con người, bao gồm: thái độ, hành vi của người đó với hiện thực thể hiện trong cách ứng xử với môi trường xung quanh và trong giao tiếp hàng ngày. Tuy nhiên đối với đề tài luận văn này, không chỉ khái quát hóa khái niệm “Tính cách” nói chung mà nghiên cứu đối tượng cụ thể là tính cách của con người Nam bộ; được xem là tính cách chung của một cộng đồng dân cư cùng cư trú, sinh hoạt ở vùng Nam bộ. Như nhận định của Trần Ngọc Thêm, tính cách cộng đồng là “hệ thống các đặc điểm tương đối bền vững của một cộng đồng người (chủ thể) trong điều kiện không gian và thời gian sinh tồn cụ thể của họ” [47, tr.2 Tính cách văn hóa vùng đất Nam bộ Từ trước đến nay, đã có rất nhiều nhà khoa học tiến hành các công trình nghiên cứu lớn, nhỏ khác nhau về văn hóa vùng; mà ở đó, những nhà nghiên cứu này đã phân tích, đút kết và đưa ra các khái niệm chung, như: Vùng văn hóa/văn hóa vùng là một thực thể văn hóa bao gồm những nét đặc trưng, những sắc thái riêng mà các vùng khác không có hoặc có nhưng không điển hình, không tiêu biểu. Những nét đặc trưng văn hóa vùng thể hiện trên những lĩnh vực văn hóa vật thể và phi vật thể, trên các lĩnh vực kinh tế (làm ruộng nước hay nương rẫy, trồng trọt hay tiến hành kinh tế chiếm đoạt, thừa hưởng của cải sẵn có của thiên nhiên), văn hóa vật chất (nhà cửa, y phục, trang sức, ăn uống, phương tiện di chuyển), văn hóa xã hội (các chu kì trong đời người: cưới xin, xin đẻ, ma 14 chay, lối sống, nếp sống), văn hóa tinh thần (tín ngưỡng, lễ hội, văn hóa dân gian, sinh hoạt cộng đồng) [14, tr.
Theo Trần Ngọc Thêm nhận định: “Theo nghĩa rộng, văn hóa vùng là văn hóa của cộng đồng cư dân sinh tồn trên phạm vi một không gian giới hạn bởi tiêu chí hành chính, địa lý, văn hóa, hoặc một tiêu chí bất kỳ nào khác”…Theo nghĩa hẹp, văn hóa vùng là văn hóa của cộng đồng cư dân sinh tồn trên phạm vi một không gian có sự thống nhất về những đặc trưng văn hóa; nói cách khác, văn hóa vùng là văn hóa của một vùng văn hóa” [48, tr. Còn tính cách văn hóa vùng được hiểu là tính cách của con người sinh sống trên một khu vực mà có thể hiểu là trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia. Theo như đề tài đang nghiên cứu thì đây là việc nghiên cứu tính cách con người Nam bộ trên lãnh thổ nước Việt Nam, còn xét rộng thêm nữa thì đó là việc nghiên cứu tính cách văn hóa của vùng đất Nam bộ nói chung. Bởi vì, “Văn hóa và tính cách của con người, một mặt phụ thuộc vào đặc điểm địa lý, sinh thái ở mỗi vùng miền, mặt khác lại phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể trong từng giai đoạn lịch sử” [18, tr.
Ở mức độ cụ thể theo đề tài này, tôi chọn khái niệm văn hóa vùng theo nghĩa hẹp của Trần Ngọc Thêm để nhấn mạnh tính cách văn hóa vùng đất Nam bộ là không gian mà đề tài nghiên cứu. Việc nghiên cứu văn hóa Nam bộ và tính cách con người Nam bộ luôn là đề tài nghiên cứu đầy sức lôi cuốn đối với các nhà khoa học và các nhà khảo cứu địa phương. Trong số đó có nhà văn Sơn Nam (còn được giới nghiên cứu văn hóa gọi là ông già Nam bộ), là một trong những người tiên phong trong việc khảo sát tính cách con người Nam bộ.