Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Lam có tổng diện tích tự nhiên 27.200 km2, sản sinh tổng lượng dòng chảy mặt hàng năm đạt khoảng 23,5 tỷ m3. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên nước phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian khi có tới 87% lượng dòng chảy (tương đương 20,5 tỷ m3) được hình thành trên diện tích 17.730 km2 thuộc lãnh thổ Việt Nam, phần còn lại bắt nguồn từ lãnh thổ nước bạn Lào. Vấn đề nghiên cứu then chốt xuất phát từ sự mâu thuẫn gay gắt giữa nguồn cung nước kiệt quệ trong mùa khô kéo dài 7 tháng và nhu cầu dùng nước tăng nhanh từ quy mô dân số trên 4,07 triệu người cùng các hoạt động sản xuất kinh tế tại hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là ứng dụng bộ mô hình toán chuyên ngành bao gồm MIKE NAM, CROPWAT và MIKE BASIN để mô phỏng, lượng hóa chi tiết cân bằng nước hệ thống trên lưu vực sông Lam. Nghiên cứu tập trung đánh giá cán cân cung cầu nước theo các kịch bản: hiện trạng năm 2011, năm đại biểu ít nước cực đoan (tương ứng năm 2010), phương án quy hoạch phát triển kinh tế đến năm 2020 và tầm nhìn biến đổi dòng chảy đến năm 2050.

Nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống cơ sở dữ liệu định lượng chính xác về mức độ thâm hụt nước tại từng tiểu vùng. Kết quả tính toán là công cụ hỗ trợ ra quyết định đắc lực cho các nhà quản lý trong việc lập quy hoạch tài nguyên nước, tối ưu hóa quy trình vận hành liên hồ chứa và bảo đảm an ninh nguồn nước cho hơn 190.000 ha diện tích canh tác lúa, nâng cao hiệu quả khai thác kinh tế của lưu vực thêm 15% đến 20%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân tích hệ thống nguồn nước và nguyên lý cân bằng nước lưu vực. Hệ thống nguồn nước được định nghĩa là một cấu trúc tích hợp gồm ba phân hệ tương tác chặt chẽ: phân hệ tài nguyên nước tự nhiên, phân hệ công trình khai thác quản lý, và phân hệ các đối tượng sử dụng nước.

Nguyên lý cân bằng nước dựa trên định luật bảo toàn vật chất, biểu thị mối quan hệ định lượng giữa tổng lượng nước đến (lượng mưa, dòng chảy mặt nhập lưu, dòng chảy ngầm) và tổng lượng nước đi (bốc thoát hơi nước, dòng chảy mặt xuất lưu, thấm sâu, lượng nước cấp cho các ngành kinh tế) cùng độ biến thiên trữ lượng của lưu vực trong một khoảng thời gian xác định.

Để xác định nhu cầu nước của cây trồng, nghiên cứu áp dụng phương pháp chuẩn Penman-Monteith được Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) công nhận. Mô hình CROPWAT tính toán bốc thoát hơi tiềm năng và kết hợp với hệ số cây trồng Kc đặc thù cho từng giai đoạn sinh trưởng của lúa và cây trồng cạn.

Các khái niệm chính được làm rõ trong nghiên cứu bao gồm: cân bằng nước hệ thống, nước hồi quy nông nghiệp, dòng chảy kiệt, và các nút cân bằng mạng lưới thủy lực (gồm 7 dạng nút cơ bản: nút đơn, nút nhận nước, nút chuyển nước, nút tưới tiêu, nút cấp nước sinh hoạt - công nghiệp, nút hồ chứa và nút thủy điện).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu khí tượng thủy văn thực đo liên tục từ 12 trạm khí tượng tiêu biểu (như Vinh, Con Cuông, Quỳ Châu, Hương Sơn, Đô Lương) và các trạm thủy văn chủ chốt (gồm Yên Thượng, Nghĩa Khánh, Hòa Duyệt, Sơn Diệm, Dừa). Cỡ mẫu dữ liệu quan trắc phục vụ hiệu chỉnh và kiểm định mô hình thủy văn kéo dài qua nhiều chu kỳ từ năm 1961 đến năm 1998 và chuỗi số liệu kinh tế - xã hội cập nhật chi tiết năm 2011.

Phương pháp chọn mẫu dựa trên nguyên tắc lựa chọn năm đại biểu theo tần suất thiết kế thủy văn. Nghiên cứu chọn năm 2010 làm năm đại biểu ít nước (tần suất P = 75% đến 90%) và năm 2011 làm năm đại biểu trung bình để kiểm tra tính ổn định của hệ thống trước các biến động thời tiết cực đoan.

Phương pháp phân tích mô hình toán được lựa chọn bao gồm mô-đun mưa - dòng chảy MIKE NAM để khôi phục các chuỗi dòng chảy bị thiếu tại các tiểu lưu vực không có trạm đo, kết hợp mô hình MIKE BASIN trên nền tảng hệ thông tin địa lý ArcGIS. Lý do lựa chọn bộ công cụ này là nhờ khả năng số hóa không gian mạng lưới sông ngòi trực quan, xử lý linh hoạt bài toán điều tiết hồ chứa đa mục tiêu và mô phỏng chính xác sự tương tác giữa nguồn nước mặt và các hộ dùng nước theo từng thời đoạn tính toán.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra sự phân bố dòng chảy tự nhiên theo thời gian có sự chênh lệch vô cùng sâu sắc. Mùa kiệt kéo dài suốt 7 tháng (từ tháng XII đến tháng VI năm sau) chỉ chiếm khoảng 20% đến 25% tổng lượng dòng chảy cả năm. Lưu lượng dòng chảy bình quân trong các tháng kiệt nhất (tháng III và tháng IV) chỉ xấp xỉ 1/10 so với dòng chảy các tháng đỉnh lũ (tháng IX và tháng X).

Thứ hai, cơ cấu sử dụng nước trên toàn lưu vực cho thấy áp lực khổng lồ từ ngành nông nghiệp. Nhu cầu nước tưới cho trồng trọt và nuôi trồng thủy sản chiếm tới hơn 85% tổng nhu cầu nước của tất cả các ngành kinh tế. Cao điểm dùng nước cho vụ lúa đông xuân (khoảng 135.169 ha) và vụ hè thu (khoảng 55.562 ha) rơi vào đúng giai đoạn dòng chảy tự nhiên trên sông suy giảm mạnh nhất.

Thứ ba, tình trạng thiếu hụt nước diễn ra cục bộ nhưng vô cùng nghiêm trọng tại các tiểu vùng hạ lưu và trung du. Trong điều kiện hiện trạng năm 2011, thiếu nước chủ yếu xuất hiện ở các tiểu vùng thuộc lưu vực sông La, sông Hiếu và hạ lưu sông Lam vào các tháng III, IV và tháng VII. Khi tính toán cho năm đại biểu ít nước (năm 2010), lượng nước thiếu hụt tăng vọt từ 35% đến 45% tại hầu hết các nút tưới tiêu ven sông, gây ảnh hưởng trực tiếp đến hàng chục nghìn hecta đất canh tác.

Thứ tư, đối với kịch bản quy hoạch 2020 và kịch bản phát triển năm 2050, do sự gia tăng dân số và mở rộng các khu công nghiệp, tổng nhu cầu dùng nước tăng từ 15% đến 25%. Mức độ thâm hụt nước có xu hướng lan rộng lên các vùng đồi trung du nếu không có thêm các công trình hồ chứa trữ nước bổ sung.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng khan hiếm nước trong mùa cạn là do hiện tượng lệch pha nghiêm trọng giữa đỉnh nhu cầu tiêu thụ và đáy của nguồn cung cấp tự nhiên. Bên cạnh đó, diện tích rừng già và rừng nguyên sinh phòng hộ đầu nguồn suy giảm, chỉ còn chiếm khoảng 12% đến 14% diện tích tự nhiên, làm giảm đáng kể khả năng giữ nước và điều hòa dòng chảy ngầm cho mùa kiệt.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu trước đây trên lưu vực sông Lam sử dụng mô hình IQQM hoặc bộ công cụ DSF, kết quả từ mô hình MIKE BASIN trong luận văn này cho thấy độ tương đồng cao về quy luật dòng chảy kiệt, đồng thời cung cấp độ chi tiết không gian vượt trội tại từng nút giao lưu vực nhờ tích hợp công nghệ GIS.

Về mặt trực quan hóa, toàn bộ dữ liệu cân bằng nước có thể được biểu diễn một cách khoa học qua biểu đồ cột chồng so sánh nguồn nước đến và tổng nhu cầu tiêu thụ theo 12 tháng trong năm. Song song đó, bảng ma trận thiếu hụt nước tại các nút và bản đồ phân vùng chuyên đề trên nền ArcGIS giúp khoanh vùng chính xác các điểm nóng thiếu nước theo 3 cấp độ: cân bằng an toàn, thiếu nước cục bộ và thiếu nước nghiêm trọng, giúp các cấp thẩm quyền dễ dàng theo dõi và xử lý.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tối ưu hóa quy trình vận hành điều tiết liên hồ chứa thủy điện và thủy lợi lớn trên lưu vực (như hồ Bản Vẽ, Khe Bố, Hủa Na). Cần ban hành quy chế phối hợp xả nước gia tăng dòng chảy tối thiểu về hạ du trong các tháng kiệt cao điểm (tháng III đến tháng V), đảm bảo lưu lượng duy trì tại trạm thủy văn Yên Thượng và Hòa Duyệt đạt trên 150 m3/s. Mục tiêu giảm 50% thời gian thiếu nước hạ du, hoàn thành lộ trình vận hành trước năm 2025 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng Tập đoàn Điện lực Việt Nam chủ trì.

Thứ hai, chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu cây trồng và áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm nước. Ngành nông nghiệp hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh cần đẩy mạnh mô hình tưới ướt - khô xen kẽ (nông - lộ - phơi) cho 190.000 ha lúa, đồng thời chuyển đổi khoảng 10.000 ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang cây trồng cạn có giá trị kinh tế cao. Mục tiêu cắt giảm 15% đến 20% định mức nước tưới nông nghiệp trong giai đoạn 2025 - 2030.

Thứ ba, tăng cường bảo vệ và phục hồi thảm phủ rừng phòng hộ đầu nguồn. Đẩy mạnh chương trình trồng rừng tại 6 huyện miền núi tỉnh Nghệ An và 2 huyện Hương Sơn, Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh, nâng độ che phủ rừng toàn lưu vực lên mức 50% đến 55% vào năm 2030 dưới sự giám sát của Chi cục Kiểm lâm địa phương.

Thứ tư, xây dựng mạng lưới trạm quan trắc tự động và hệ thống hỗ trợ ra quyết định thời gian thực. Lắp đặt bổ sung 15 trạm đo mưa và mực nước tự động tại các hợp lưu trọng yếu, tích hợp phần mềm MIKE BASIN vào công tác dự báo hạn hán trước 10 đến 15 ngày, thực hiện trong giai đoạn 2025 - 2028 do Sở Tài nguyên và Môi trường phụ trách.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh): Luận văn cung cấp luận cứ khoa học thực chứng để xây dựng quy hoạch phân bổ tài nguyên nước lưu vực sông Lam đến năm 2030 và kế hoạch ứng phó hạn mặn mùa khô.

Công ty khai thác công trình thủy lợi và ban quản lý các nhà máy thủy điện: Đơn vị quản lý có thể ứng dụng các thông số cân bằng nước và biểu đồ dòng chảy kiệt để thiết lập lịch cấp nước mùa khô và kế hoạch xả nước phát điện hài hòa lợi ích kinh tế - dân sinh.

Các viện nghiên cứu, giảng viên chuyên ngành Thủy văn, Tài nguyên nước và Môi trường: Tài liệu là nguồn tham khảo phương pháp luận chuẩn xác về việc ứng dụng kết hợp chuỗi mô hình MIKE NAM, CROPWAT và MIKE BASIN trong môi trường ArcGIS để giải quyết bài toán thủy văn lưu vực phức tạp.

Sinh viên, học viên cao học kỹ thuật công trình thủy và thủy văn học: Luận văn là tài liệu học thuật mẫu mực về cấu trúc phân tích hệ thống nguồn nước, phương pháp xử lý dữ liệu quan trắc thực tế và kỹ năng mô phỏng cân bằng nước chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Tổng lượng nước năm của sông Lam rất lớn (23,5 tỷ m3) nhưng vì sao lưu vực vẫn xảy ra thiếu nước trầm trọng vào mùa cạn? Tình trạng thiếu nước xảy ra do sự phân bố dòng chảy không đều theo thời gian. Khoảng 75% đến 80% lượng nước tập trung vào 5 tháng mùa lũ, trong khi 7 tháng mùa kiệt chỉ chiếm 20% đến 25% lượng nước năm. Đáy dòng chảy vào tháng III và IV trùng với đỉnh điểm tưới cho vụ đông xuân dẫn đến thiếu hụt cục bộ.

Mô hình MIKE BASIN có ưu thế vượt trội gì so với các phương pháp tính toán cân bằng nước truyền thống? MIKE BASIN được tích hợp trực tiếp trên nền tảng ArcGIS, cho phép mô phỏng mạng lưới thủy lực trực quan theo không gian và thời gian. Mô hình xử lý linh hoạt 7 loại nút chức năng, giúp mô phỏng chính xác sự tương tác phức tạp giữa các hồ chứa, công trình lấy nước và các hộ tiêu thụ trên toàn lưu vực.

Mô hình CROPWAT đóng vai trò cụ thể như thế nào trong nghiên cứu này? Mô hình CROPWAT của FAO được sử dụng để tính toán bốc thoát hơi tiềm năng theo công thức Penman-Monteith và xác định chính xác nhu cầu nước tưới mặt ruộng cho từng loại cây trồng theo các tuần suất mùa vụ. Kết quả này là dữ liệu đầu vào cốt lõi để nạp vào các nút tưới tiêu trong mô hình MIKE BASIN.

Ngành kinh tế nào trên lưu vực sông Lam chịu tác động nặng nề nhất khi xảy ra thiếu nước mùa cạn? Ngành nông nghiệp trồng trọt và nuôi trồng thủy sản chịu thiệt hại nặng nề nhất vì chiếm trên 85% tổng nhu cầu dùng nước. Tình trạng cạn kiệt nguồn nước vào tháng III, IV và VII thường gây hạn hán trên diện rộng, suy giảm năng suất lúa đông xuân và làm gia tăng nguy cơ xâm nhập mặn vùng cửa sông.

Kịch bản phát triển đến năm 2050 cảnh báo những thách thức gì đối với an ninh nguồn nước lưu vực sông Lam? Dưới tác động của biến đổi khí hậu và gia tăng nhu cầu nước từ 15% đến 25% cho công nghiệp và đô thị, nguy cơ thiếu hụt nước sẽ mở rộng từ hạ lưu lên vùng trung du. Nếu không bổ sung hồ chứa điều tiết và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tình trạng thâm hụt nước sẽ ngày càng trầm trọng.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng toàn diện nguồn tài nguyên nước mặt lưu vực sông Lam với tổng lượng 23,5 tỷ m3/năm và làm rõ sự mất cân đối sâu sắc khi mùa kiệt kéo dài 7 tháng chỉ chiếm khoảng 25% tổng dòng chảy.
  • Ứng dụng thành công chuỗi công cụ mô hình toán tiên tiến gồm MIKE NAM, CROPWAT và MIKE BASIN trên nền GIS để mô phỏng mạng lưới cân bằng nước chi tiết theo 7 dạng nút chức năng.
  • Xác định chính xác các điểm nghẽn thiếu nước tại các tiểu vùng hạ lưu sông Lam, lưu vực sông La và sông Hiếu trong các điều kiện hiện trạng, năm ít nước cực đoan và kịch bản tương lai.
  • Đánh giá xu hướng gia tăng thâm hụt nguồn nước từ 15% đến 25% theo kịch bản phát triển kinh tế và biến đổi khí hậu đến năm 2020 và tầm nhìn 2050.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa công trình vận hành liên hồ chứa, bảo vệ thảm phủ rừng đầu nguồn và giải pháp phi công trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nước.

Về đóng góp chính, công trình nghiên cứu là tài liệu khoa học có độ tin cậy cao, lấp đầy khoảng trống dữ liệu cân bằng nước chi tiết cho từng tiểu vùng trên lưu vực sông Lam.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2025 đến năm 2030, các địa phương cần đẩy nhanh việc ứng dụng kết quả mô hình vào quy trình giám sát trực tuyến và lập quy hoạch tài nguyên nước liên tỉnh. Các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác trực tiếp cơ sở dữ liệu và thuật toán mô phỏng trong luận văn để áp dụng vào các lưu vực lân cận nhằm nâng cao hiệu quả quản trị nguồn nước bền vững.