Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ NGỮ CHỈ MÀU SẮC TRONG TIẾNG VIỆT 1.1 Nghĩa và tính biểu trưng của từ ngữ 1.1 Nghĩa của từ “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức”, nói cách khác, từ là đơn vị có nghĩa. Theo Nguyễn Thiện Giáp [22:76], ta có một tam giác ngữ nghĩa có tính khái quát: một đỉnh là ngữ âm, một đỉnh là cái sở chỉ (đối tượng biểu thị), một đỉnh là cái sở biểu (ý niệm) Từ ngữ âm Gọi tên Biểu hiện Cái sở chỉ Cái sở biểu Phản ánh Sơ đồ 1.1: Tam giác ngữ nghĩa của từ Cái sở chỉ là đối tượng mà từ biểu hiện, gọi tên. Cái sở chỉ có thể gồm những đối tượng ngoài ngôn ngữ như: sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, tư duy và người sử dụng và những đối tượng trong ngôn ngữ như: chức năng tín hiệu học, hệ thống (cấu trúc) của ngôn ngữ. Cái sở biểu là sự phản ánh của đối tượng trong nhận thức con người.
Nó phản ánh sự vật, hiện tượng trong nhận thức con người. Cần phân biệt cái được biểu hiện với nghĩa của đơn vị ngôn ngữ. Nghĩa của từ (cũng như của các đơn vị ngôn ngữ khác) là quan hệ của từ với khái niệm về sự vật hiện tượng nằm ngoài bản thân nó. Hiểu nghĩa của một đơn vị nào đó là hiểu đơn vị ấy có quan hệ với cái gì, tức là nó biểu thị cái gì.
Vì từ có quan hệ rất đa dạng với các hiện tượng khác cho nên nghĩa của từ cũng là một hiện tượng phức tạp, bao gồm một số thành tố chính như: a. Nghĩa sở chỉ: là mối quan hệ của từ với đối tượng mà từ biểu thị. Đối tượng mà từ biểu thị không phải chỉ là những sự vật, mà còn là các quá trình, tính chất hoặc hiện tượng thực tế nào đó. Những sự vật, quá trình, tính chất hoặc hiện tượng mà từ biểu thị được gọi là cái sở chỉ của từ.
Mối quan hệ của từ với sở chỉ được gọi là nghĩa sở chỉ. Nghĩa sở biểu: là quan hệ của từ với ý, tức là khái niệm hoặc biểu tượng mà từ biểu hiện. Khái niệm hoặc biểu tượng có quan hệ với từ được gọi là cái sở biểu và quan hệ của từ với cái sở biểu được gọi là nghĩa sở biểu. Thuật ngữ ý nghĩa thích hợp nhất để dùng chỉ nghĩa sở biểu.
Cái sở biểu và cái sở chỉ của một từ có quan hệ chặt chẽ với nhau. Cái sở biểu chính là sự phản ánh của cái sở chỉ trong nhận thức con người. Tuy nhiên giữa cái sở biểu và cái sở chỉ vẫn có sự khác nhau rất lớn. Mỗi cái sở biểu có thể ứng với nhiều cái sở chỉ khác nhau vì nó có quan hệ với cả một lớp hạng đối tượng trong thực tế.
Ngược lại, một cái sở chỉ có thể thuộc vào những cái sở biểu khác nhau, bởi vì cùng một sự vật, tùy theo đặc trưng có thể tham gia vào một số lớp, hạng khác nhau, bắt chéo nhau. Nghĩa sở chỉ thể hiện ra khi sử dụng các từ trong lời nói. Nó không có tính ổn định, bởi vì bản thân mối quan hệ của từ với cái sở chỉ có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh nói năng cụ thể. Quan hệ giữa ngữ âm của từ với cái sở biểu, tức là nghĩa sở biểu của từ đó, trong một giai đoạn lịch sử nhất định là cái có tính chất ổn định.
Vì vậy, nghĩa sở biểu thuộc vào hệ thống ngôn ngữ. Khi nói đến ý nghĩa hay nghĩa từ vựng của các từ, trước hết người ta muốn nói đến chính nghĩa này. Nghĩa sở dụng: là quan hệ của từ với người sử dụng (người nói, người viết, người nghe, người đọc). Người sử dụng phải chú ý đến từ ngữ được dùng.
Họ có thể bộc lộ thái độ, cảm xúc của mình với từ ngữ và qua đó tới cái sở chỉ và cái sở biểu của từ ngữ. Quan hệ của từ với người sử dụng được gọi là nghĩa sở dụng. Nghĩa kết cấu: là quan hệ giữa từ với những từ khác trong hệ thống từ vựng được gọi là nghĩa kết cấu. Nghĩa sở chỉ và nghĩa sở biểu trong các ngôn ngữ đều có quan hệ với việc nhận thức hiện thực khách quan.
Nhưng sự hình thành của những cái sở biểu lại được diễn ra trên cơ sở ngôn ngữ, bằng những phương tiện có sẵn, cho nên có thể đạt đến các cái sở biểu bằng những con đường khác nhau, bởi vì bản thân quá trình nhận thức được thực hiện bằng những biện pháp ngôn ngữ khác nhau. Khi các biện pháp ngôn ngữ thay đổi thì cái sở biểu cũng thay đổi. Chính vì vậy, cái sở biểu của những từ tương ứng trong các ngôn ngữ không hoàn toàn giống nhau. Sự khác nhau là do quan hệ nội tại lẫn nhau giữa các từ trong từng ngôn ngữ qui định.
Quan hệ giữa từ này với từ khác thể hiện trên hai trục: trục đối vị và trục ngữ đoạn. Quan hệ của từ đối với từ khác trên trục đối vị được gọi là nghĩa khu biệt hay giá trị. Quan hệ của từ với các từ khác trên trục ngữ đoạn được gọi là nghĩa cú pháp hay ngữ trị. Nghĩa cú pháp hay ngữ trị của từ chính là khả năng kết hợp từ vựng và khả năng kết hợp cú pháp của từ đó.
Khả năng kết hợp từ vựng là khả năng kết hợp của các nghĩa, còn khả năng kết hợp cú pháp là khả năng dùng các từ trong những cấu trúc nào đó. Theo Đỗ Hữu Châu, ý nghĩa của từ là một tập hợp một số thành phần nhất định, bao gồm các ý nghĩa sau: - Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật: Ý nghĩa biểu vật là sự phản ánh sự vật, hiện tượng, trong thực tế vào ngôn ngữ. Đó là những mẩu, những mảnh, những đoạn cắt của thực tế nhưng không hoàn toàn trùng với thực tế. - Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm: Sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào tư duy thành các khái niệm, được phản ánh vào ngôn ngữ thành các ý nghĩa biểu vật và từ ý nghĩa biểu vật có ý nghĩa biểu niệm tương ứng.
Các ý nghĩa biểu niệm một mặt thông qua các ý nghĩa biểu vật mà liên hệ với thực tế khách quan, mặt khác lại có liên hệ khái niệm, qua khái niệm mà liên hệ với các sự vật, hiện tượng bên ngoài. - Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái: Ý nghĩa biểu thái là những nhân tố đánh giá (to, nhỏ, cao, lớn,…), nhân tố cảm xúc (dễ chịu, khó chịu, sợ hãi), nhân tố thái độ (trọng, khinh, yêu, ghét,)… mà từ gợi ra cho người nói và người nghe. - Ý nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp Tính biểu trưng là sự biểu hiện một cách tượng trưng và tiêu biểu nhất. Như vậy tính biểu trưng thuộc thành phần ý nghĩa biểu niệm của từ.
Ngoài những quan niệm về nghĩa của từ đã trình bày trên đây, một số nhà nghiên cứu Việt ngữ học còn có quan điểm khác về nghĩa của từ. Đó là quan niệm nghĩa của từ chỉ là nghĩa biểu niệm (nghĩa sở biểu).2 Nghĩa biểu trưng Mỗi sự vật, thông qua tên gọi, thường gợi lên trong ý thức người bản ngữ một liên tưởng nào đó, gắn liền với một đặc điểm, thuộc tính của sự vật. Quá trình liên tưởng dẫn tới sự ra đời của nghĩa bóng, nghĩa phái sinh bằng phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ, hoán dụ. Đó cũng là quá trình hình thành nghĩa biểu trưng.
Những nghĩa chuyển được dùng để biểu hiện một cách tượng trưng, ước lệ cho yếu tố có tính khái quát, trừu tượng, nghĩa đó là nghĩa biểu trưng. John Lyons [46: 21] phân tích: Một sự vật được coi là tín hiệu (sign) của một cái khác được gọi là biểu trưng. Nhờ sự hiện diện của những tín hiệu mà người khác có thể suy đoán nghĩa biểu thị. Khi đó, biểu trưng (symbol) được xác lập.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học [85], thì cái biểu trưng (symbol) là “kí hiệu, dấu hiệu mà nội dung khái niệm do nó biểu đạt được biết nhờ vào tri giác suy luận từ chính bản thân cái đặc trưng, cái thuộc tính của bản thể và hình thái cấu tạo của nó” [85: 30]. Theo quan niệm trên thì từ ngữ là cái biểu trưng và những nghĩa phái sinh (derivative meaning) như nghĩa ẩn dụ (metaphor), nghĩa hoán dụ (metonymy) đều là nghĩa biểu trưng bởi đều được suy ra từ những nghĩa cơ sở (nghĩa gốc) dựa trên tính tương đồng và tương cận. Ví dụ như: “cáo” là tên của một loại thú ăn thịt, sống ở rừng, gần với chó nhưng chân thấp, tai to, mõm nhọn. Thế nhưng “cáo” trong câu “Thằng cha đó cáo lắm.” thì có nghĩa là tinh ranh, gian xảo.
Nghĩa biểu trưng cũng được tạo ra theo quy luật hoán dụ. Chẳng hạn từ “chân” (danh từ) có nghĩa gốc là “bộ phận dưới cùng của cơ thể người hay động vật, dùng để đi, đứng; thường được coi là biểu tượng của hoạt động đi lại của con người” [53: 240]. Trên cơ sở nghĩa gốc nêu trên, từ “chân” còn có thể dùng với nghĩa phái sinh hoán dụ là “cương vị, phận sự của một người với tư cách là thành viên của một tổ chức: có chân trong hội đồng, thiếu một chân tổ tôm,… Từ điển tiếng Việt [53] giải thích: biểu trưng (động từ và danh từ) “là biểu hiện một cách tượng trưng và tiêu biểu nhất”. Từ điển Oxford Advanced Leaner (7th edition) định nghĩa: biểu trưng là biểu tượng của thứ gì đó.
Từ điển Từ Hải (Trung Quốc) thì cho rằng biểu trưng là dùng sự vật cụ thể biểu hiện các ý nghĩa trừu tượng nào đó. Ví dụ: con rồng là biểu trưng cho một tín ngưỡng hay những biểu trưng nghệ thuật thời nguyên thủy. Theo quan niệm này thì ngoài loại biểu trưng bằng từ ngữ còn có biểu trưng bằng hình ảnh gọi là biểu tượng. Trong tiếng Anh gọi là symbol.
Những biểu trưng bằng hình ảnh như: cây thánh giá biểu trưng, biểu tượng cho Thiên Chúa giáo, cái cân là biểu tượng của công lí, búa- liềm trong cờ Đảng là biểu tượng cho sự đoàn kết gắn bó của giai cấp công nhân và nông dân, cây măng trong huy hiệu nhi đồng là biểu trưng cho sự lớn nhanh của thiếu nhi,… Như vậy, các từ ngữ với nghĩa gốc có thể làm cơ sở tạo nên một nghĩa phái sinh được coi là có tính biểu trưng. Các nghĩa phái sinh (ẩn dụ, hoán dụ) được tạo ra trên cơ sở nghĩa gốc theo cách này được coi là nghĩa biểu trưng.