Chương 1 dé cập đến một số quan điểm vẻ an dụ dưới hai góc độ là ngôn ngữ học truyền thong và NNHTN. Dưới góc nhìn ngôn ngữ học truyền thống, ân dụ được soi chiếu dưới nhiều quan điểm khác nhau và nôi bật trong số đó là quan điểm thay thế, quan điểm so sánh và quan điểm 13 tương tác. Dưới góc nhìn NNHTN, ân dụ là cách thức con người ý niệm hoá thẻ giới. Với nguôn ngữ liệu khao sát, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến tiêu chí phân loại ADTN theo chức năng.
Tuy nhiên, trong khuôn khô của khoá luận và dựa trên tính phô biến của các loại ân dụ, chúng tôi lựa chọn đi sâu phân tích và nghiên cứu hai loại là ADCT và ADBT. Bên cạnh đó, ở chương này, chúng tôi cũng khái quát vẻ thơ ca đương đại cũng như vấn đề ADTN trong thơ đương đại Việt Nam. Sang đến chương 2, chúng tôi đã vận dụng những lí thuyết trên dé đi vào xác lập, miêu tả và phân tích 11 ADCT trong phạm vi thơ của một số tác giả đương đại nôi bit, bao gồm: Nguyễn Thế Hoàng Linh. Vi Thuỳ Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thiên Ngân và Nguyễn Phong Việt.
Với ba miền ý niệm THỜI GIAN. CUỘC ĐỜI và TÌNH YÊU, chúng tôi đã khái quát được những thuộc tính ánh xạ nhằm giúp người đọc hiểu thêm về ADCT trong một số tác phẩm thơ đương đại Việt Nam. Cuối cùng, ở chương 3. chúng tôi vẫn tiếp tục vận dụng.
trién khai các lí thuyết va phương pháp nghiên cứu liên quan dé phân tích 11 ADBT với ba miền đích THỜI GIAN. CUỘC ĐỜI và TINH YÊU nhăm làm rõ cách thức tri nhận của các nhà thơ đương đại về những miền ý niệm tru tượng này dựa trên những thực thé và chất liệu trong thé giới tự nhiên. 14 CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE CHUNG 1. An dụ dưới góc nhìn ngôn ngữ hoc truyền thống 1.
Quan điểm thay thế Quan điểm thay thé, đầy đủ hơn là quan điểm thay thé doi với an dụ (substitution view of metaphor) được Black (1955: 273) giới thiệu và phân tích cụ thé với những câu hỏi nhằm làm sáng tỏ một số cách chúng ta sử dụng ân dụ hay nói cách khác là việc phân tích những ý niệm an dy, như: “Lam thé nao dé nhận biết một trường hop an du?”, “C6 những căn cứ nào dé nhận biết ân dụ", “C6 thé hiểu ân dụ tử các biểu thức nghĩa đen không?", “C6 phải an dụ chỉ đơn thuần là sự điểm tô cho ‘nghia đơn giản`?`, “Gitta an dụ và so sánh có điểm tương đồng nào không?", “Bang cách nào có thé cho rang ân dụ là một ‘sang tao"?”, “Viée sử dụng ân dụ nhằm mục đích gì? Dé giải quyết cho những câu hỏi trên, Black đưa ra bảy ví dụ mà theo ông, đủ cho quan điểm của mỗi người về ân dụ có khác nhau, chúng vẫn mặc nhiên được xem là những ân dụ. Trong công trình này. Black không đi sâu vào phân tích tất cả các ví dụ mà tập trung vào ví dụ sau đề làm rõ cái mà ông gọi là quan điểm thay thé: The chairman ploughed through the discussion (Chủ tịch len lách qua cuộc thao luận) Trong ví dụ trên, ta nhận thay người nói muốn dé cập một điều gì đó vẻ hành động của chủ tịch trong cuộc thảo luận nhưng “ploughed” ở đây không mang nghĩa đen (len lách) mà được hiều theo cách ân du, đó có thé là việc chủ tịch xử lí dứt điểm những phản đối. gat bỏ những điều không liên quan hay những nghĩa tương tự.
Với cách nói này, không phải bat cứ ai cũng có thé hiểu được ý nghĩa của câu nói mà chỉ "người nghe thông minh mới có thê dé dàng đoán ý của người noi”. Theo Black, bat kì quan điểm nào cho rằng một biểu thức ân dụ được dùng thay thé cho một biéu thức tương đương với nó đều là quan điểm thay thé, trong đó: How do we recognize a case of metaphor? Are there any criteria for the detection of metaphor?", “Can metaphors be translated into litcral expressions?”, “Is metaphor properly regarded as a decoration upon “plain sense’?”, “What are the relations between metaphor and simile?”,”Ín what sense, ifany, is a metaphor ‘creative’?”, “What is the point of using a metaphor?” (Black 1955: 273) * An intelligent hearer can easily guess what the speaker had in mind (Black 1955: 278) 15 M (metaphorical expression) là biểu thức an du L (literal expression) là biéu thức nghĩa den Trong quan điềm này, biéu thức an dụ sẽ là yếu tô dé thay thé cho biéu thức nghĩa den có nghĩa tương đương. Nói một cách đơn giản, an dụ là “nói một điều và ám chỉ một điều khác”. Quan điểm thay thế của Black cũng được nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ và có những đóng góp nhất định trong việc nghiên cứu về ân dụ hay ngôn ngữ học nói chung.
Việc hiểu an dụ là một quá trình phức tạp, không đơn thuần là sự hiểu nghĩa den ma phải đặt chúng trong một ngữ cảnh trong đó nghĩa đen được sử dụng. Chính điều này đã giúp nhiều nhà ngôn ngữ học cho rằng ân dụ không chỉ thuộc phạm trù ngữ nghĩa học mà rộng hơn, thuộc về phạm trù ngữ dụng học. Quan điểm so sánh Bên cạnh quan điểm thay thé, quan diém so sánh của ân dụ (comparison view of metaphor), từ đây chúng tôi sẽ gọi tắt là quan điểm so sánh cũng là một trong số những quan điểm nôi bật về an dụ truyền thong. Trong công trình Elements of Rhetoric, R.
Whately cho rằng: “Ti du!" hay so sánh có thé được xem như sự khác biệt vẻ hình thức so với ân du; sự giống nhau trong trường hop đó được khang định, còn trong ân dụ là hàm chỉ"! Sự khác biệt giữa an dụ và tỉ dụ cũng được hai nhà nghiên cứu Hoàng Dũng và Bùi Mạnh Hùng (2007: 131) chỉ ra trong Giáo trình Dân luận Ngôn ngữ học như sau: “An dụ khác với tỉ dụ (ví dụ: đỏ nà son) ở hai điểm: 1. Sự so sánh ở ân dụ là hàm ân trong khi ở tỉ dụ là hiền ngôn; và 2. An dụ là sự biến đôi nghĩa, còn tỉ dụ thi khong”. Black (1955) xem ân dụ như một phép so sánh và cụ thê hơn là một phép so sánh rút gọn.
Ong chỉ ra sự khác biệt giữa quan điểm xem ân dụ là so sánh rút gon và quan điềm thay thé qua ví du “Richard là con sự tứ” (Richard is a lion). Theo quan điểm thay thé, câu này có nghĩa gần giống với câu “Richard diing mãnh ” (Richard is brave). Còn theo quan điểm so sánh rút gon, nó có nghĩa gần giống với câu “Richard là con sự tử (bằng sự dũng mãnh của minh)” (Richard is like a lion (in being brave)). Tuy nhiên, những từ trong ngoặc đơn chỉ là giả định chứ không được dùng một cách ? “Saying one thing and meaning another” (Black 1955: 280) '© Theo cách dịch của Cao Xuân Hạo va Hoàng Dũng (2005: 224) trong Từ điển thuật ngừ ngôn ngit hoe đổi chiêu Anh — Việt, Việt — Anh.
"The simile or comparison may be considered as differing in form only from a metaphor; the resemblance being in that case stated, which in the metaphor is implied” (Whately 1861: 253) 16 hiển ngôn. Cả trong trường hợp thứ nhất va thứ hai, cách hiểu ân dụ được thay cho nghĩa den của câu nhưng quan điểm so sánh đòi hỏi những diễn giải phức tap và chi tiết hơn. Quan điểm tương tác Tên day đủ của quan điểm tương tác là quan điểm tương tác của an dụ (interaction view of metaphor), quan điểm này “trinh được những thiếu sót của quan điểm thay thé và so sánh, thêm vào đó còn cung cấp một vài điều quan trọng trong việc sử dụng và ranh giới của ân dụ'”?. Nội dung của quan điểm này được Black khang định như sau: “Khi chúng ta sử dung ân dụ, ta có hai suy nghĩ vẻ những điều khác nhau củng tác động lên nhau và được bô trợ bởi một từ hoặc một biêu thức mà ý nghĩa của chúng chính là kết quả của sự tương tác dé".
Đề làm rõ quan điểm nay, Black đã phân tích ví dụ Con người là chó sói (Man is a wolf). Ta có thé trừu xuất hai chủ thé từ câu trên. Chủ thé chính là “con người” (man) và chủ thé phụ là “chó sóï (wolf). Quan điểm tương tác cho rằng chúng ta sử dụng hệ thông đặc điểm (như của sói) đề “loc” hay tô chức ý niệm của chúng ta về một hệ thông mới (như của người) đê có được ý nghĩa mới về một sự vật nào đó, điều này được ông gọi là hệ thống liên tưởng phô biến (system of associated commonplaces).
Tuy nhiên, đối với ân du, điều quan trọng không phải tinh chân lí của hệ thông liên tưởng này mà là khả năng liên tưởng của ta bởi một ân dụ bình thường trong nên văn hoá này có thé trở thành vô lí trong nền văn hoá khác. trong Con người là chó sói. những hàm ý như “hung dit’, “săn moi”, “khôn ngoan". sẽ được gợi ra như những liên tưởng phô biến và vận dụng dé hiểu về người mặc dù “chó sóï” và “con người", nêu hiệu theo nghĩa den thì hoàn toàn khác nhau.
Nếu con người được xem như chó sói thì hệ quả của việc sử dung từ “cho sói” mang tính an du sẽ giúp khơi dậy những liên tưởng phô biến tương ứng và liên kết với tri thức có sẵn về chủ thê chính “con người” dé tạo ra một tô hợp nghĩa khác. Tuy nhiên, ở những nơi tin rằng chó sói mang linh hồn của người chết thì Con người là chó sói sẽ được hiểu theo một cách khác. Điều này cho thấy môi liên hệ mật thiết giữa văn hoá và tư duy con người. ở mỗi nén văn hoá khác nhau, ta sẽ có những liên tưởng !?*Be free from the main defects of substitution and comparison views and to offer some important insight into the uses and limitations of metaphor” (Black 1955: 285) “When we use a metaphor we have two thoughts of different things active together and supported by a single word, or phrase, whose meaning is a resultant of their interaction” 1? khác nhau.
Thêm vào đó, ta cũng không thê gắn tat cả đặc điểm của chó sói cho con người, ân dụ Con người là chó sói đã bỏ qua một số chỉ tiết và làm nôi bật một số chí tiết khác dé có thé tạo ra cái nhìn mới của chúng ta về “con người” thông qua “ché sói”. Ba quan điểm trên đóng vai trò quan trong trong việc nghiên cứu an dụ nói riêng cũng như ngôn ngữ học nói chung.