Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Ẩn dụ tri nhận trong thơ đương đại Việt Nam" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Phương Duyên (ngành Ngôn ngữ học, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh) dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Tăng Thị Tuyết Mai vào năm 2023. Đề tài thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học, định hướng Ngôn ngữ học tri nhận (Cognitive Linguistics) ứng dụng vào phân tích văn bản nghệ thuật.
Lý do chọn đề tài xuất phát từ sự phát triển của ngôn ngữ học tri nhận trên thế giới và tại Việt Nam. Ẩn dụ tri nhận (ADTN) từ chỗ là đối tượng nghiên cứu thuần túy lý thuyết đã được mở rộng ứng dụng vào việc lý giải các hiện tượng ngôn ngữ đời sống và văn chương. Tại Việt Nam, nhiều công trình đã khảo sát ADTN trong ca dao, dân ca, tục ngữ, thành ngữ hoặc các tác phẩm văn học thời kỳ trước (đặc biệt là phong trào Thơ mới 1932–1945). Trong khi đó, thơ đương đại Việt Nam từ sau năm 1986—đặc biệt là các sáng tác của các tác giả trẻ đầu thế kỷ XXI—đang tạo nên diện mạo mới với ngôn ngữ đời thường, giàu tính chiêm nghiệm và phá cách. Tuy nhiên, các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận thơ đương đại dưới góc độ thi pháp học truyền thống hoặc lý luận văn học (như nghiên cứu thơ mạng, phong cách tác giả), mà chưa có công trình nào khảo sát một cách có hệ thống cả ba miền ý niệm đích mang tính phổ quát và trừu tượng là THỜI GIAN, CUỘC ĐỜI và TÌNH YÊU dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là vận dụng lý thuyết ẩn dụ tri nhận vào việc nghiên cứu thơ đương đại Việt Nam, qua đó làm rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa trong thơ ca đương đại dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận.
Để hoàn thành mục đích trên, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu các cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu và một số ý kiến, quan điểm liên quan đến đối tượng khảo sát;
- Khảo sát, phân loại và thống kê số lượng các ẩn dụ tri nhận với ba miền đích là THỜI GIAN, CUỘC ĐỜI và TÌNH YÊU;
- Xác lập các mô hình ẩn dụ cấu trúc (ADCT) và ẩn dụ bản thể (ADBT) trong thơ đương đại Việt Nam qua ngữ liệu;
- Phân tích cơ chế ánh xạ giữa miền nguồn và miền đích dựa trên những thuộc tính tương đồng, đồng thời lý giải cũng như phân tích các mô hình ẩn dụ tri nhận trong thơ đương đại Việt Nam để thấy được mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa.
Đối tượng nghiên cứu là hiện tượng ẩn dụ tri nhận trong thơ đương đại Việt Nam qua ba miền đích trừu tượng là THỜI GIAN, CUỘC ĐỜI và TÌNH YÊU, cùng cơ sở ý niệm hóa và cơ chế tạo thành của các ẩn dụ này.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở các khía cạnh:
- Về tác giả: Khảo sát sáng tác của 5 gương mặt thơ đương đại tiêu biểu gồm Nguyễn Thế Hoàng Linh, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thiên Ngân và Nguyễn Phong Việt.
- Về loại hình ẩn dụ: Tập trung nghiên cứu hai loại hình phổ biến là Ẩn dụ cấu trúc (ADCT) và Ẩn dụ bản thể (ADBT). Khóa luận chủ động loại trừ Ẩn dụ định vị (orientational metaphor) vì tần số xuất hiện của loại ẩn dụ này trong ngữ liệu khảo sát rất thấp, không đủ cơ sở để khái quát thành các mô hình tri nhận hoàn chỉnh.
- Về phạm vi tư liệu: Bao gồm các tác phẩm thơ có chứa các miền ý niệm nghiên cứu từ các tập thơ đã xuất bản, các tác phẩm đăng tải trên trang mạng thivien.net và trang Facebook cá nhân của chính các tác giả tính đến tháng 4 năm 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên hai trục tiếp cận chính: ngôn ngữ học truyền thống và ngôn ngữ học tri nhận.
Ở góc độ ngôn ngữ học truyền thống, tác giả điểm qua ba quan điểm lý thuyết nền tảng:
- Quan điểm thay thế (substitution view) của Max Black (1955), nhìn nhận biểu thức ẩn dụ được dùng để thay thế cho một biểu thức mang nghĩa đen tương đương.
- Quan điểm so sánh (comparison view) của Richard Whately (1861) và Max Black (1955), xem ẩn dụ như một phép so sánh rút gọn (hàm ẩn so với tính hiển ngôn của tỉ dụ).
- Quan điểm tương tác (interaction view) của Max Black (1955), khẳng định ý nghĩa ẩn dụ là kết quả tương tác giữa hai chủ thể (chủ thể chính và chủ thể phụ) thông qua "hệ thống liên tưởng phổ biến" (system of associated commonplaces), tạo tiền đề chuyển dịch từ cấp độ ngôn từ sang cấp độ tư duy.
Ở góc độ ngôn ngữ học tri nhận, khóa luận kế thừa khung lý thuyết từ các công trình kinh điển:
- Mô hình ẩn dụ ý niệm của George Lakoff và Mark Johnson (Metaphors We Live By, 1980);
- Nghiên cứu ẩn dụ trong thơ ca của George Lakoff và Mark Turner (More than Cool Reason: A Field Guide to Poetic Metaphor, 1989);
- Nghiên cứu về tâm trí văn chương của Mark Turner (The Literary Mind, 1996);
- Giáo trình và các ứng dụng của Zoltán Kövecses (Metaphor: A Practical Introduction, 2010);
- Ẩn dụ đường dẫn (conduit metaphor) của Michael Reddy (1979);
- Các công trình nghiên cứu và bản địa hóa lý thuyết tại Việt Nam của Lý Toàn Thắng (1994, 2005, 2008), Phan Thế Hưng (2007, 2008, 2009), Hà Thanh Hải (2007), Trần Trương Mỹ Dung (2005) và Nguyễn Thiện Giáp (2016).
Hệ thống khái niệm công cụ được tác giả chuẩn hóa bao gồm: ý niệm (concept) và sự ý niệm hóa (conceptualization); phạm trù và phạm trù hóa (categorization); biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ (metaphorical linguistic expression) đối sánh với ẩn dụ tri nhận (conceptual metaphor); cấu trúc miền nguồn (source domain) và miền đích (target domain); cơ chế ánh xạ (mapping); tính tương hòa văn hóa (cultural coherence); cùng 4 cơ chế sản sinh ẩn dụ văn chương gồm mở rộng (extending), chi tiết hóa (elaborating), đặt vấn đề (questioning) và kết hợp (composing).
Về phương pháp nghiên cứu, khóa luận phối hợp hai phương pháp chuyên ngành:
- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ: Sử dụng thủ pháp phân tích định tính để phân tích các biểu thức ẩn dụ và quá trình ánh xạ ý niệm; sử dụng thủ pháp phân tích ý niệm để nhận biết cách thức tri nhận của nhà thơ trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa.
- Phương pháp thống kê ngôn ngữ: Sử dụng thủ pháp phân loại và hệ thống hóa để tập hợp 1.379 ngữ liệu thành các nhóm mô hình tri nhận; sử dụng thủ pháp so sánh nhằm đối chiếu sự tương đồng và khác biệt trong cách thức tri nhận giữa các tác giả đương đại với nhau, cũng như giữa thơ đương đại với phong trào Thơ mới (1932–1945).
Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm 1.379 ngữ liệu ẩn dụ được trích xuất từ các tập thơ xuất bản chính thức, thư viện thi ca trực tuyến (thivien.net) và trang cá nhân của 5 nhà thơ: Nguyễn Thế Hoàng Linh, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thiên Ngân và Nguyễn Phong Việt.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 1 đóng vai trò xây dựng nền tảng lý luận và bối cảnh nghiên cứu. Tác giả trình bày lịch sử nghiên cứu ẩn dụ từ quan điểm truyền thống (thay thế, so sánh, tương tác) đến bước chuyển mang tính bản lề của ngôn ngữ học tri nhận từ thập niên 1980. Trong chương này, tác giả đi sâu phân biệt hai khái niệm dễ nhầm lẫn trong giới Việt ngữ học là "khái niệm" (concept/notion) và "ý niệm" (concept).
Khái niệm thuộc phạm vi tư duy thuần túy, mang tính nhân loại, bắt buộc biểu đạt bằng ngôn từ và có tính trừu xuất miêu tả khách quan. Ngược lại, ý niệm là đơn vị của ý thức và tri nhận, vừa mang tính nhân loại vừa mang tính đặc thù dân tộc, gắn chặt với trải nghiệm văn hóa, có thể biểu hiện bằng ngôn từ hoặc phi ngôn từ, chứa đựng yếu tố hình tượng và tình cảm.
Tiếp đó, tác giả trình bày các tiêu chí phân loại ẩn dụ tri nhận của Kövecses (theo tính quy ước, tính chất, mức độ khái quát và chức năng), đồng thời lý giải 4 cơ chế sáng tạo ẩn dụ văn chương từ các ẩn dụ quy ước đời thường theo Lakoff và Turner.
Ở phần bối cảnh văn học, chương 1 phác thảo diện mạo thơ đương đại Việt Nam từ năm 1986 đến nay. Đây là giai đoạn thơ ca chuyển dịch mạnh mẽ từ các chủ đề mang tính cộng đồng, lý tưởng xã hội sang các chiều kích đời sống thường nhật, thế sự, thân phận cá nhân và cảm xúc riêng tư. Sự phát triển của văn học mạng và sự xuất hiện của các cây bút trẻ đã đem lại những thử nghiệm táo bạo về từ ngữ, cú pháp và biểu đạt nghệ thuật, biến thơ đương đại thành ngữ cảnh phù hợp cho việc nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận.
Chương 2: Ẩn dụ cấu trúc trong thơ đương đại Việt Nam
Chương 2 tập trung khảo sát và phân tích 11 mô hình ẩn dụ cấu trúc (ADCT) với tổng số 433 ngữ liệu (chiếm 31,40% tổng ngữ liệu khảo sát), phân bố qua ba miền đích:
- Miền đích THỜI GIAN (74 ngữ liệu): Được ý niệm hóa qua hai miền nguồn:
- THỜI GIAN LÀ SỰ CHUYỂN ĐỘNG (61 ngữ liệu, chiếm 82,43% trong nhóm ADCT thời gian): Tác giả chỉ ra hai trạng thái tri nhận không gian. Thứ nhất là "thời gian chuyển động lấy chủ thể đứng yên làm trung tâm" (chủ thể ở hiện tại, không gian phía trước là tương lai chuyển dịch tới, không gian phía sau là quá khứ đã trôi qua). Thứ hai là "chủ thể chuyển động trong tương quan với thời gian đứng yên" (chủ thể di chuyển trên trục ngang từ trái sang phải, tiến về tương lai nhưng tâm lý thường có xu hướng ngoái nhìn về quá khứ đã trải qua).
- THỜI GIAN LÀ THỰC VẬT (13 ngữ liệu, chiếm 17,57%): Miền đích thời gian được tri nhận qua các thuộc tính của cây cỏ (bộ phận thực vật, vòng đời sinh trưởng như mầm, hoa, rụng rơi, tàn úa).
- Miền đích CUỘC ĐỜI: Tác giả xác lập 4 mô hình ADCT tiêu biểu:
- CUỘC ĐỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH: Ánh xạ cấu trúc hành trình (lữ khách, hành lý, phương tiện, chướng ngại vật, lộ trình, điểm đến) lên cuộc đời con người (con người, khó khăn/vấn đề cá nhân, công cụ sống, trắc trở, định hướng, mục tiêu sống).
- CUỘC ĐỜI LÀ THỰC VẬT: Gắn sự sinh tồn, phát triển và lụi tàn của con người với chu kỳ cây cỏ.
- CUỘC ĐỜI LÀ DÒNG SÔNG: Dòng chảy liên tục, bến đỗ, khúc quanh, sự trôi nổi của kiếp người.
- CUỘC ĐỜI LÀ VỞ KỊCH: Vai diễn, sân khấu, mặt nạ, kịch bản, sự kết thúc của màn diễn.
- Miền đích TÌNH YÊU: Tác giả xác lập 5 mô hình ADCT:
- TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH;
- TÌNH YÊU LÀ THỰC VẬT;
- TÌNH YÊU LÀ TRÒ CHƠI;
- TÌNH YÊU LÀ VỞ KỊCH;
- TÌNH YÊU LÀ LỬA.
Mỗi mô hình đều được phân tích chi tiết qua các thuộc tính ánh xạ cụ thể và minh họa bằng các đoạn thơ của 5 tác giả khảo sát.
Chương 3: Ẩn dụ bản thể trong thơ đương đại Việt Nam
Chương 3 triển khai nghiên cứu 11 mô hình ẩn dụ bản thể (ADBT) với 946 ngữ liệu (chiếm 68,60% tổng ngữ liệu khảo sát). ADBT cho phép các nhà thơ cụ thể hóa các khái niệm trừu tượng, vô hình thành các thực thể vật lý, chất liệu hoặc vật chứa có đường biên rõ rệt:
- Miền đích THỜI GIAN (5 mô hình):
- THỜI GIAN LÀ VẬT THỂ: Thời gian được tri nhận như một vật thể hữu hình, có thể cầm nắm, đo đếm, đánh rơi, cắt rời hoặc chắp vá.
- THỜI GIAN LÀ CON NGƯỜI: Thực hiện cơ chế nhân hóa, gán cho thời gian các hành vi, cảm xúc, tâm trạng và hoạt động của con người (bước đi, lãng quên, độc ác, chữa lành).
- THỜI GIAN LÀ VẬT CHỨA: Thời gian có không gian bên trong - bên ngoài, con người hoặc ký ức nằm "trong" hay bước "ra khỏi" thời gian.
- THỜI GIAN LÀ CHẤT LỎNG: Thời gian có thể chảy, rót, tràn, bốc hơi.
- THỜI GIAN LÀ NGUỒN TÀI NGUYÊN: Thời gian có giá trị, có thể chi tiêu, lãng phí, tiết kiệm hoặc đánh mất.
- Miền đích CUỘC ĐỜI (3 mô hình):
- CUỘC ĐỜI LÀ CON NGƯỜI: Cuộc đời được xem như một thực thể có tính cách (bao dung, nghiệt ngã, thờ ơ).
- CUỘC ĐỜI LÀ VẬT CHỨA: Cuộc đời là không gian chứa đựng niềm vui, nỗi buồn, sự cô đơn.
- CUỘC ĐỜI LÀ VẬT THỂ: Cuộc đời được đo lường, phân chia thành từng mảnh, có sức nặng hoặc độ vỡ vụn.
- Miền đích TÌNH YÊU (3 mô hình):
- TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ: Tình cảm được hữu hình hóa thành vật phẩm, quà tặng, đồ vật dễ vỡ, vết thương vật lý.
- TÌNH YÊU LÀ CON NGƯỜI: Tình yêu biết đau, biết phản bội, biết ghen tuông hoặc vỗ về.
- TÌNH YÊU LÀ VẬT CHỨA: Trạng thái chìm đắm trong tình cảm được ý niệm hóa như việc bước vào hoặc thoát ra khỏi một không gian vật chứa.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã xử lý tập ngữ liệu gồm 1.379 biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ, phân loại thành 22 mô hình ẩn dụ tri nhận thuộc hai nhóm chính: Ẩn dụ cấu trúc và Ẩn dụ bản thể.
Tương quan số lượng và tỉ lệ giữa hai nhóm ẩn dụ được tổng hợp trong bảng sau:
| Loại hình ẩn dụ tri nhận |
Số lượng ngữ liệu |
Tỉ lệ (%) |
| Ẩn dụ cấu trúc (ADCT) |
433 |
31,40 |
| Ẩn dụ bản thể (ADBT) |
946 |
68,60 |
| Tổng cộng |
1.379 |
100,00 |
Trong nhóm ADCT đối với miền đích THỜI GIAN (74 ngữ liệu), tỉ lệ xuất hiện của từng mô hình gồm:
- THỜI GIAN LÀ SỰ CHUYỂN ĐỘNG: 61 ngữ liệu (chiếm 82,43%).
- THỜI GIAN LÀ THỰC VẬT: 13 ngữ liệu (chiếm 17,57%).
Khóa luận đã thống kê chi tiết các thuộc tính ánh xạ (TTAX) trong mô hình THỜI GIAN LÀ SỰ CHUYỂN ĐỘNG qua Bảng 2.1 của văn bản:
| Miền nguồn (SỰ CHUYỂN ĐỘNG) |
Miền đích (THỜI GIAN) |
Số lượng |
Tỉ lệ (%) |
| Sự chuyển động của chủ thể |
Sự dịch chuyển của thời gian |
57 |
33,73 |
| Vị trí của chủ thể |
Hiện tại |
54 |
31,95 |
| Không gian phía sau chủ thể |
Quá khứ |
45 |
26,63 |
| Không gian phía trước chủ thể |
Tương lai |
13 |
7,69 |
| Tổng |
|
169 |
100,00 |
Đối với mô hình THỜI GIAN LÀ THỰC VẬT, tác giả phân tích các thuộc tính ánh xạ theo Bảng 2.2 của văn bản:
| Miền nguồn (THỰC VẬT) |
Miền đích (THỜI GIAN) |
Số lượng |
Tỉ lệ (%) |
| Bộ phận của thực vật |
Khoảng thời gian |
4 |
28,57 |
| Chu kỳ sinh trưởng/phát triển |
Sự vận động của thời gian |
4 |
28,57 |
| Sự biến đổi hình thái/tàn héo |
Sự trôi qua của thời gian |
6 |
42,86 |
| Tổng |
|
14 |
100,00 |
Về mặt lý luận, khóa luận khẳng định khả năng vận dụng khung lý thuyết Ngôn ngữ học tri nhận của Lakoff, Johnson và Kövecses vào việc phân tích thi pháp học và ngữ nghĩa học tiếng Việt đương đại. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng ẩn dụ trong thơ ca bắt nguồn từ hệ thống ý niệm đời thường nhưng được các nhà thơ mở rộng, chi tiết hóa và phối hợp thông qua các cơ chế sáng tạo nghệ thuật.
Về mặt thực tiễn, công trình xây dựng được một hệ thống 22 mô hình tri nhận hoàn chỉnh, kèm theo 8 phụ lục thống kê chi tiết toàn bộ 1.379 ngữ liệu có mã hóa tọa độ và xuất xứ tác phẩm. Nghiên cứu cũng thực hiện các đối sánh để chỉ ra nét riêng trong phong cách tri nhận của từng nhà thơ trẻ: nét nữ tính, nồng nàn, táo bạo ở Vi Thùy Linh; sự sâu lắng, đổ vỡ và chiêm nghiệm ở Nguyễn Phong Việt; cảm xúc nhẹ nhàng, gắn liền với chuyển động của thiên nhiên ở Nguyễn Thiên Ngân. Đồng thời, tác giả còn chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt trong cách ý niệm hóa giữa thơ đương đại và phong trào Thơ mới giai đoạn 1932–1945.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn một số hạn chế do khuôn khổ của một công trình tốt nghiệp đại học:
- Về phạm vi ngữ liệu: Đề tài mới chỉ khảo sát trên ngữ liệu của 5 tác giả thơ đương đại (Nguyễn Thế Hoàng Linh, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thiên Ngân, Nguyễn Phong Việt), chưa thể bao quát toàn bộ các khuynh hướng và tác giả khác của nền thơ Việt Nam sau 1986.
- Về loại hình ẩn dụ: Công trình chưa nghiên cứu ẩn dụ định vị (orientational metaphor) do tần số xuất hiện của loại ẩn dụ này trong ngữ liệu thu thập được quá thấp, không đủ điều kiện để mô hình hóa một cách hệ thống.
- Về miền ý niệm: Nghiên cứu tập trung vào 3 miền đích phổ biến (THỜI GIAN, CUỘC ĐỜI, TÌNH YÊU), chưa mở rộng khảo sát các miền ý niệm trừu tượng khác cũng rất đặc trưng trong thơ ca như NỖI BUỒN, CÁI CHẾT, CÔ ĐƠN hay KHÔNG GIAN.
Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ đề tài:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang nhiều tác giả thơ đương đại khác, bao gồm cả các tác giả cựu trào và các hiện tượng thơ thể nghiệm mới;
- Ứng dụng mô hình tri nhận để nghiên cứu các thể loại văn học khác như truyện ngắn, tản văn, tiểu thuyết đương đại;
- Kết hợp nghiên cứu ẩn dụ tri nhận với hoán dụ tri nhận (conceptual metonymy) và lý thuyết hòa trộn không gian tinh thần (conceptual blending theory) để phân tích sâu hơn cấu trúc nghĩa của ngôn ngữ thi ca hiện đại.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học ngành Ngôn ngữ học, Sư phạm Ngữ văn và Văn học Việt Nam trong việc tiếp cận phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa ngôn ngữ học và văn học;
- Người nghiên cứu quan tâm đến việc ứng dụng lý thuyết Ngôn ngữ học tri nhận vào phân tích ngữ nghĩa tiếng Việt;
- Giáo viên ngữ văn trung học phổ thông trong việc đổi mới phương pháp hướng dẫn học sinh tiếp cận, cảm thụ văn bản thơ đương đại từ góc độ phương thức tư duy và cơ chế tạo nghĩa;
- Phần Phụ lục (từ Phụ lục 1 đến Phụ lục 8) chứa 1.379 biểu thức ẩn dụ được phân loại, định lượng và dẫn nguồn minh xác là tập dữ liệu có giá trị tham khảo cho các nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ - văn hóa sau này.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận khảo sát ngữ liệu từ những tác giả nào và thu thập qua những kênh tư liệu nào?
Khóa luận khảo sát 1.379 ngữ liệu thơ của 5 tác giả đương đại tiêu biểu: Nguyễn Thế Hoàng Linh, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thiên Ngân và Nguyễn Phong Việt. Nguồn tư liệu được thu thập từ ba kênh: các tập thơ đã xuất bản chính thức của các tác giả, các bài thơ đăng tải trên website thivien.net và các bài thơ được công bố trên trang Facebook cá nhân của chính tác giả.
2. Vì sao tác giả chỉ tập trung nghiên cứu Ẩn dụ cấu trúc và Ẩn dụ bản thể mà không phân tích Ẩn dụ định vị?
Theo trình bày của tác giả ở phần Mở đầu, trong ba loại ẩn dụ phân theo chức năng, Ẩn dụ cấu trúc và Ẩn dụ bản thể là hai loại hình xuất hiện với mật độ dày đặc, cung cấp nhiều thông tin ý niệm rõ nét trong thơ ca đương đại. Ngược lại, Ẩn dụ định vị (dựa trên các chiều kích không gian như lên - xuống, trong - ngoài) có tần số xuất hiện trong ngữ liệu khảo sát rất thấp, không đủ cơ sở dữ liệu để khái quát hóa và xác lập thành các mô hình tri nhận hoàn chỉnh.
3. Khóa luận luận giải như thế nào về hai trạng thái tri nhận trong mô hình "THỜI GIAN LÀ SỰ CHUYỂN ĐỘNG"?
Tác giả phân tích hai trạng thái:
- Trạng thái 1: "Thời gian chuyển động lấy chủ thể đứng yên làm trung tâm": Chủ thể cố định ở hiện tại, thời gian vận động từ trước ra sau (trước mặt là tương lai chưa tới, sau lưng là quá khứ đã trôi qua).
- Trạng thái 2: "Chủ thể chuyển động trong tương quan với thời gian đứng yên": Thời gian được ý niệm hóa như một trục ngang (từ trái sang phải), chủ thể di chuyển qua các điểm mốc thời gian; không gian phía trước là tương lai, không gian phía sau là quá khứ. Ở trạng thái này, các nhà thơ đương đại thường có tâm lý ngoái nhìn lại phía sau để thể hiện sự nuối tiếc ký ức đã qua.
4. Khóa luận phân biệt khái niệm (notion) và ý niệm (concept) dựa trên những tiêu chí nào?
Tác giả tổng hợp bảng so sánh dựa trên 8 tiêu chí: quá trình hình thành (tư duy thuần túy so với quá trình tri nhận); phạm vi (ngôn ngữ so với ngôn ngữ kết hợp lời nói); đơn vị (tư duy so với ý thức); cách thức biểu hiện (bắt buộc bằng ngôn từ so với có thể bằng ngôn từ hoặc không); tính chất nội dung (chỉ mang tính miêu tả so với kết hợp miêu tả, tình cảm - ý chí và hình tượng); đặc trưng văn hóa (tính nhân loại phổ quát so với kết hợp tính nhân loại và tính dân tộc); và tính chất nghệ thuật (không có tính hình tượng/ẩn dụ so với có tính hình tượng/ẩn dụ).
5. Tương quan tỉ lệ xuất hiện giữa Ẩn dụ cấu trúc và Ẩn dụ bản thể trong khóa luận có đặc điểm gì nổi bật?
Trong tổng số 1.379 ngữ liệu khảo sát, Ẩn dụ bản thể chiếm ưu thế vượt trội với 946 ngữ liệu (đạt tỉ lệ 68,60%), trong khi Ẩn dụ cấu trúc có 433 ngữ liệu (đạt tỉ lệ 31,40%). Số liệu này phản ánh xu hướng rõ nét của các nhà thơ trẻ đương đại trong việc vật thể hóa, nhân hóa và cụ thể hóa các ý niệm vô hình, trừu tượng (thời gian, cuộc đời, tình yêu) thành các thực thể, chất liệu hoặc vật chứa hữu hình trong đời sống thường nhật.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Phương Duyên là một công trình nghiên cứu nghiêm túc thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học, ứng dụng hiệu quả lý thuyết Ngôn ngữ học tri nhận vào việc khảo sát thơ ca đương đại Việt Nam. Bằng việc xử lý định lượng và định tính 1.379 ngữ liệu của 5 cây bút trẻ, tác giả đã xác lập và miêu tả sáng rõ 22 mô hình ẩn dụ cấu trúc và bản thể xoay quanh ba miền đích THỜI GIAN, CUỘC ĐỜI và TÌNH YÊU. Kết quả công trình không chỉ làm rõ cơ chế tư duy và ý niệm hóa mang đậm dấu ấn nghiệm thân, văn hóa của người Việt trong thơ ca sau năm 1986, mà còn cung cấp nguồn ngữ liệu có hệ thống và phương pháp tiếp cận giá trị cho các nghiên cứu ngữ nghĩa học văn bản nghệ thuật.