Chương 1: Tổng quan về thành ngữ, tục ngữ 1. Khái quát về thành ngữ và tục ngữ 1. Khái niệm thành ngữ, tục ngữ Thành ngữ, tục ngữ là đối tượng của nhiều ngành khoa học khác nhau, do đó việc xác định khái niệm thành ngữ, tục ngữ là một công việc khó khăn. Tùy theo góc nhìn mà thành ngữ, tục ngữ được hiểu bằng những nội hàm khác nhau.
Ngay dưới góc nhìn của ngôn ngữ học, thành ngữ, tục ngữ cũng được xem xét và kiến giải khác nhau… Người viết chỉ đề cập đến quan niệm thành ngữ, tục ngữ được nhiều nhà ngôn ngữ tán thành để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài. Khái niệm thành ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh Trong tiếng Việt, thành ngữ được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ các nhà nghiên cứu văn học dân gian đến các nhà ngôn ngữ học. Dưới góc độ ngôn ngữ học, thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ thuộc cụm từ cố định. Và theo “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”: “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu” [100, tr.
Trong bài “Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ và tục ngữ”, Cù Đình Tú đã quan niệm: “Thành ngữ là những đơn vị có sẵn, mang chức năng định danh, nói khác đi dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hành động. Nguyễn Văn Mệnh trong “Vài suy nghĩ góp phần xác định khái niệm thành ngữ tiếng Việt” quan niệm: “Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ có sẵn. Chúng là những ngữ có kết cấu chặt chẽ và ổn định, mang một ý nghĩa nhất định, có chức năng định danh và được tái hiện trong giao tế. Nguyễn Thiện Giáp thì định nghĩa: “Thành ngữ là một cụm từ mà ý nghĩa của nó không được tạo thành từ các ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó.
Ngay cả khi nghĩa của tất cả các từ trong đó vẫn chưa thể đoán chắc nghĩa thành ngữ của cụm từ đó… Thành ngữ có tính hoàn chỉnh về nghĩa nhưng lại có tính chất tách biệt của các thành tố trong kết cấu, do đó nó hoạt động trong câu với tư cách tương đương với một từ cá biệt…” [26, tr. Tóm lại, có thể hiểu một cách cơ bản, thành ngữ là cụm từ cố định có tính chất gợi hình, nghĩa của thành ngữ là nghĩa của toàn khối, nó là sự miêu tả một hình ảnh, một hành động, một tính chất hoặc một trạng thái. Nó mang chức năng định danh chứ không nêu lên một thông báo. Đối với thành ngữ tiếng Anh, nó cũng mang những điểm cơ bản tương tự như thành ngữ tiếng Việt nói riêng và thành ngữ của các ngôn ngữ trên thế giới nói chung.
Trong công trình “English idioms”, J. McMordie quan niệm: “thành ngữ có thể định nghĩa là một số các từ, khi đi với nhau, có nghĩa khác với nghĩa của mỗi từ riêng lẻ” [108] (An idioms can be defined as a number of words which, when taken together, have a different meaning from the individual meanings of each word). Còn các tác giả trong “English idioms in use” cũng cho rằng: “thành ngữ là những cụm từ cố định mà nghĩa của chúng không được trực tiếp nhận ra từ nghĩa của các từ riêng lẻ trong thành ngữ” [111] (Idioms are fixed of expressions whose meaning is not immediately obvious from looking at the individual words in the idiom). Trong tiếng Anh, thành ngữ có nhiều dạng và nhiều cấu trúc khác nhau.
Một thành ngữ có thể có cấu trúc mang tính có quy tắc hoặc không có quy tắc, thậm chí là không đúng câu trúc ngữ pháp. Sự rõ ràng về nghĩa của thành ngữ không phụ thuộc vào “tính đúng ngữ pháp”. Chẳng hạn: - Hình thức bất quy tắc, nghĩa rõ ràng như trong give some to understand, do some proud, do the dirty on some one… - Hình thức có quy tắc, nghĩa mơ hồ như have a bee in one’s bonnet, cut no ice, bring the house down… - Hình thức bất quy tắc, nghĩa mơ hồ như trong be at large, go great guns, be at dangers drawn… Theo hai tác giả này thì thành ngữ tiếng Anh đa số là thuộc nhóm có quy tắc nhưng nghĩa không rõ ràng. Họ cũng cho rằng không thể thay đổi bất kì thành phần nào trong thành ngữ, chỉ trừ một vài thành ngữ có biến thể.
Ví dụ trong thành ngữ eat one’s word (rút lại lời đã nói) thì không thể nói eat one’s sentences hoặc swallow one’s word… Còn John Saeed thì định nghĩa: thành ngữ được xem như những từ tập hợp lại để trở nên gắn liền với nhau đến khi chúng trở thành một kết cấu bền vững (“Idiom” as words collocated that became affixed to each other until metamorphosing into a fossilised term) [Dẫn theo Wikipedia]. Các tác giả “Từ điển thành ngữ tiếng Anh” (English idiom - Longman) cho rằng thành ngữ là cụm từ mà nghĩa của nó khác với nghĩa của từng từ riêng biệt cộng lại (a group of words that have a different meaning from the usual meaning of the separate words). Tóm lại, cũng như thành ngữ tiếng Việt, thành ngữ tiếng Anh là một cụm từ mang chức năng định danh, gợi hình, mà nghĩa của nó không phải là tổng cộng ý nghĩa của từng từ trong thành ngữ đó và nó đa dạng về cấu trúc. Khái niệm tục ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh Từ điển bách khoa Wikipedia đã định nghĩa về tục ngữ: Một câu tục ngữ (từ tiếng La tinh: proverbium) là một câu đơn giản và cụ thể được nhiều người biết đến và lặp đi lặp lại, nó thể hiện một sự thật, dựa trên ý nghĩa thông thường hoặc kinh nghiệm thực tế của nhân loại.
Chúng thường mang nghĩa ẩn dụ. (A proverb (from Latin: proverbium) is a simple and concrete saying popularly known and repeated, which expresses a truth, based on common sense or the practical experience of humanity. They are often metaphorical). Tục ngữ của các dân tộc trên thế giới đều có những điểm tương đồng.
Tuy vậy, do đặc điểm tâm lý dân tộc khác nhau và các ngôn ngữ không giống nhau nên tục ngữ của mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng của nó. Hoàng Trinh trong “Từ kí hiệu học đến thi pháp học” đã từng nhận xét rằng: “Ngay một số nhà tục ngữ học vào loại hàng đầu cũng phải thừa nhận là không một định nghĩa nào có thể cho phép xác định rõ ràng như thế nào là một câu tục ngữ” [91, tr. Do đó, người viết sẽ không đi sâu vào tìm hiểu, phân tích định nghĩa khoa học về tục ngữ mà chỉ dẫn ra một số cách hiểu và những đặc trưng cơ bản của tục ngữ. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (1996): Tục ngữ là “Câu nói ngắn gọn, có cấu trúc tương đối ổn định, đúc kết kinh nghiệm sống, đạo đức, tri thức của một dân tộc.
Khác với cách ngôn, tục ngữ không bao hàm ý nghĩa khuyên răn trực tiếp” [100, tr. Nguyễn Thái Hòa trong “Tục ngữ Việt Nam - cấu trúc và thi pháp” đã quan niệm: “Tục ngữ là những phát ngôn hình thành trong lời thoại hằng ngày. Đó là những đơn vị lời nói nhưng tồn tại trong ký ức của cộng đồng như là một đơn vị ngôn ngữ, nói như J. Lyons là “những phát ngôn làm sẵn”” [35, tr.
Đối với tục ngữ tiếng Anh, Wikiquote định nghĩa như sau: Tục ngữ thường được định nghĩa như những cách diễn đạt ngắn về một kinh nghiệm phổ biến. Những nỗ lực để cải thiện định nghĩa phổ quát cũng không mang lại một định nghĩa chính xác hơn. Những kinh nghiệm, tri thức thường ở dạng những kiến thức chung về thế giới hoặc lời khuyên, đôi khi gần với thái độ đối với hoàn cảnh. (Proverbs are popularly defined as short expressions of popular wisdom.
Efforts to improve on the popular definition have not led to a more precise definition. The wisdom is in the form of a general observation about the world or a bit of advice, sometimes more nearly an attitude toward a situation). Alan Dundes đứng trên quan niệm cấu trúc định nghĩa: “Tục ngữ là một phát ngôn chuyên biệt mang tính truyền thống chứa đựng ít nhất một thành tố miêu tả, thành tố miêu tả chứa đựng một phần đề và một phần thuyết” (A proverb is a traditional propositional statement consisting of at least one descriptive element, a descriptive element consisting of a topic and a comment) [106, tr. Tóm lại, theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, dù ngắn cách mấy, tục ngữ cũng là một câu thể hiện một ý nghĩa trọn vẹn, nghĩa của câu tục ngữ là nghĩa kết hợp của từng từ cấu tạo nên nó.
Ý nghĩa của câu tục ngữ có thể là một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, hay một lời khuyên, một lời phán đoán, phê bình…Về mặt hình thức, tục ngữ thường có vần điệu, có cấu tạo là một câu hoàn chỉnh và nó có thể bao chứa cả thành ngữ, hoặc được cấu tạo nên bằng những thành phần chức năng là thành ngữ. Về mặt chức năng, nó mang tính thông báo một nhận định, một kinh nghiệm hay một kết luận về một khía cạnh nào đó của thế giới quan. Khái quát thành ngữ và tục ngữ có từ chỉ màu sắc 1. Khái quát về từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và tiếng Anh Màu sắc là biểu hiện phức tạp nhất của nhận thức và cảm thụ thị giác.
Nó là đối tượng của hàng loạt các ngành khoa học và kỹ thuật khác nhau. Vật lý nhận biết nó như là dải ánh sáng có tần số và biên độ khác nhau. Hóa học coi nó là sản phẩm của những chất màu nhất định. Quang học coi nó là biểu hiện của phổ ánh sáng.
Nghề in coi việc in màu là kỹ thuật thực hiện các cách chồng màu để có màu gần với sự thật… Đối với ngôn ngữ học, việc nhìn nhận màu sắc lại là một vấn đề khác đáng được quan tâm. “Màu sắc là đặc tính giác quan của thị giác con người. Màu sắc có được do ánh sáng quang phổ tác động vào mắt bằng các trực giác quang phổ của cơ quan hấp thụ ánh sáng” (Wikipedia). Màu sắc trong tiếng Việt được các nhà từ điển học và các nhà nghiên cứu tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau.
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) định nghĩa về màu sắc: 1. Các màu, không kể trắng và đen (nói khái quát) 2.