Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong xu hướng phát triển y dược học hiện đại, việc sử dụng các chế phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên ngày càng được quan tâm và gia tăng mạnh mẽ. Theo các khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về nghiên cứu thuốc từ dược liệu, bên cạnh các yêu cầu về hiệu quả lâm sàng, độ an toàn và cơ chế tác dụng, việc thiết lập các phương pháp đánh giá chất lượng một cách khoa học là yêu cầu tiên quyết. Tại Việt Nam, Dược điển Việt Nam V (DĐVN V) là cơ sở pháp lý cao nhất cho công tác kiểm nghiệm, tuy nhiên trong số 1.519 tiêu chuẩn quốc gia về thuốc mới chỉ có 372 tiêu chuẩn dành cho dược liệu và thuốc dược liệu. Thực tế này đòi hỏi các cơ sở sản xuất và nghiên cứu phải chủ động xây dựng tiêu chuẩn cơ sở (TCCS) nhằm kiểm soát chất lượng nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất.
Cây Đinh lăng lá xẻ (Polyscias fruticosa (L.) Harms, họ Nhân sâm - Araliaceae) là loài thực vật được di thực và trồng phổ biến tại Việt Nam từ lâu đời để làm cảnh, gia vị và làm thuốc. Theo quy định hiện hành trong DĐVN V, bộ phận dùng làm thuốc duy nhất của Đinh lăng là rễ đã phơi hoặc sấy khô. Do đó, quá trình khai thác chỉ thu hoạch phần rễ và loại bỏ gần như toàn bộ sinh khối thân và cành, dẫn tới sự lãng phí rất lớn nguồn tài nguyên dược liệu. Trong khi đó, các nghiên cứu sơ bộ cho thấy thân Đinh lăng cũng chứa các nhóm hoạt chất sinh học tương tự như rễ, đặc biệt là nhóm saponin triterpenoid. Đến thời điểm đề tài thực hiện, chưa có dược điển nào trên thế giới công bố chuyên luận tiêu chuẩn chất lượng cho bộ phận thân Đinh lăng.
Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài khóa luận "Xây dựng tiêu chuẩn của dược liệu thân Đinh lăng tại một số vùng trồng GACP tỉnh Nam Định" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Thị Dịu dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Tuấn Anh và TS. Thân Thị Kiều My tại Bộ môn Dược liệu, Trường Đại học Dược Hà Nội, phối hợp cùng Công ty Cổ phần Traphaco.
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là khảo sát và xây dựng một số chỉ tiêu kiểm nghiệm chính của thân Đinh lăng (Polyscias fruticosa) được trồng và thu hái tại các vùng trồng đạt tiêu chuẩn Thực hành tốt trồng trọt và thu hái dược liệu (GACP) tại tỉnh Nam Định. Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Khảo sát đặc điểm cảm quan, hình thái vi học (vi phẫu thân cắt ngang và bột dược liệu) của thân Đinh lăng.
- Khảo sát các chỉ tiêu thử tinh khiết (độ ẩm, tro toàn phần) và chỉ tiêu chất chiết được trong dung môi nước nóng.
- Khảo sát thành phần hóa học định tính bằng phản ứng hóa học ống nghiệm và sắc ký lớp mỏng (TLC).
- Khảo sát, thẩm định và ứng dụng quy trình định lượng acid oleanolic trong thân Đinh lăng bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC).
- Tổng hợp dữ liệu thực nghiệm để đề xuất dự thảo Tiêu chuẩn cơ sở cho dược liệu thân Đinh lăng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Dược liệu thân cây Đinh lăng lá xẻ (Polyscias fruticosa (L.) Harms).
- Phạm vi không gian: 15 mẫu thân Đinh lăng (ký hiệu từ TM1 đến TM15) thu hái từ các vùng trồng đạt chuẩn GACP của Công ty Cổ phần Traphaco tại tỉnh Nam Định, bao gồm các xã/thị trấn: Hải An, Rạng Đông, Nam Điền, Hải Châu, Hải Thanh, Hải Giang. Độ tuổi của cây thu hái dao động từ 3,5 đến 7 năm tuổi.
- Phạm vi thời gian: Mẫu được thu hái từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2021; thời gian lưu mẫu trước khi phân tích dao động từ 0,3 tháng đến 14 tháng; khóa luận hoàn thành vào tháng 6 năm 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý:
- Hệ thống phân loại thực vật của Takhtajan (2009): Loài Polyscias fruticosa (L.) Harms thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), phân lớp Cúc (Asteridae), bộ Hoa tán (Apiales), họ Nhân sâm (Araliaceae), chi Đinh lăng (Polyscias).
- Thành phần hóa học và chất đánh dấu (marker): Nghiên cứu kế thừa các công bố về saponin triterpenoid khung oleanane (sapogenin chính là acid oleanolic, các polysciosid A-K), các hợp chất polyacetylen ((8E)-heptadeca-1,8-dien-4,6-diyn-3,10-diol, falcarinol), acid amin, phytosterol và tinh dầu. Trong nghiên cứu này, acid oleanolic được lựa chọn làm chất đánh dấu phân tích để định tính và định lượng kiểm soát chất lượng dược liệu.
- Văn bản pháp lý và tài liệu hướng dẫn: Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật số 68/2006/QH11; Thông tư số 09/2010/TT-BYT hướng dẫn quản lý chất lượng thuốc; Quyết định số 1570/2000/QĐ-BYT về áp dụng nguyên tắc Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc (GLP); Dược điển Việt Nam V (các phụ lục kiểm nghiệm và chuyên luận rễ Đinh lăng); hướng dẫn xây dựng chuyên luận dược liệu của Hội đồng Dược điển châu Âu (EDQM) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO); hướng dẫn thẩm định phương pháp phân tích theo tiêu chuẩn của Hiệp hội các nhà hóa phân tích chính thống (AOAC).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
- Phương pháp cảm quan và vi học: Mô tả hình thái bên ngoài của đoạn thân và phiến thái lát theo Phụ lục 12.8 DĐVN V. Làm tiêu bản vi phẫu cắt ngang thân tươi/khô, tẩy bằng nước Javen, nhuộm kép bằng dung dịch xanh methylen và đỏ son phèn, quan sát dưới kính hiển vi quang học Labomed. Bột dược liệu (sau khi nghiền và rây qua rây 32) được soi trong nước hoặc glycerin để ghi nhận các mảnh mô và thể vùi, quan sát thêm dưới ánh sáng phân cực.
- Phương pháp định tính hóa học: Bột dược liệu được chiết phân đoạn lần lượt bằng các dung môi có độ phân cực tăng dần (ether, ethanol, nước). Tiến hành thử nghiệm xác định 6 nhóm hợp chất hữu cơ (saponin, đường khử, polysaccharid, acid hữu cơ, acid amin, sterol tự do) qua các phản ứng đặc trưng: phản ứng tạo bọt, phản ứng Liebermann-Bouchard, phản ứng với thuốc thử Fehling, phản ứng với dung dịch Lugol, phản ứng sủi bọt với natri carbonat ($Na_2CO_3$), và phản ứng tạo màu với thuốc thử ninhydrin. Thử nghiệm được khảo sát trên các lượng mẫu dược liệu khác nhau: 0,5 g, 2 g và 10 g nhằm tìm giới hạn phát hiện.
- Phương pháp sắc ký lớp mỏng (TLC): Bản mỏng pha thường Silica gel $60\text{ }F_{254}$ (Merck), hoạt hóa ở $100 \pm 5^\circ\text{C}$ trong 30 phút. Dịch chiết mẫu thử được thủy phân bằng dung dịch acid hydrocloric ($HCl$) 6 M, đun hồi lưu cách thủy trong 3 giờ, làm sạch và hòa cắn trong methanol. Pha động khai triển là hệ dung môi cloroform - methanol ($CHCl_3 - MeOH$, tỷ lệ 40:1 thể tích). Thuốc thử hiện màu là dung dịch vanilin 1% trong acid sulfuric ($H_2SO_4$), sấy ở $105^\circ\text{C}$ đến khi hiện rõ vết; quan sát dưới ánh sáng thường và ánh sáng tử ngoại bước sóng 366 nm.
- Thử tinh khiết và xác định lượng chất chiết được:
- Độ ẩm: Xác định theo phương pháp mất khối lượng do làm khô ở $105^\circ\text{C}$ trong 4 giờ, sử dụng cân phân tích và tủ sấy Memmert (Phụ lục 9.6 DĐVN V).
- Tro toàn phần: Xác định khối lượng cắn còn lại sau khi nung vô cơ hóa hoàn toàn mẫu thử trong chén sứ ở nhiệt độ không quá $500^\circ\text{C}$ theo phương pháp 1 (Phụ lục 9.8 DĐVN V).
- Chất chiết được: Tiến hành theo phương pháp chiết nóng với dung môi nước cất (Phụ lục 12.10 DĐVN V).
- Phương pháp định lượng acid oleanolic bằng HPLC:
- Xử lý mẫu: Bột thân Đinh lăng (qua rây 500) được chiết bằng methanol dưới hỗ trợ của bể siêu âm Daihan Scientific, ly tâm gạn lấy dịch, thu hồi dung môi. Thủy phân bằng dung dịch $HCl$ 6 M đun hồi lưu cách thủy 3 giờ. Dịch thủy phân được làm sạch bằng kỹ thuật chiết pha rắn (SPE) trên cột Agilent C18 (500 mg) qua bộ chiết chân không 12 vị trí; rửa tạp bằng methanol 5% đến trung tính, rửa giải hoạt chất bằng methanol tinh khiết.
- Điều kiện sắc ký lỏng hiệu năng cao: Hệ thống sắc ký lỏng Shimadzu gồm bơm LC-20AD, detector DAD SPD-M20A, buồng điều nhiệt CTO-20A, bộ tiêm mẫu tự động SIL-20C. Cột phân tích Shim-pack GIST C18 ($250 \times 4,6\text{ mm}; 5\text{ }\mu\text{m}$). Nhiệt độ cột $25^\circ\text{C}$. Pha động acetonitril - dung dịch acid phosphoric ($H_3PO_4$) 0,1% (tỷ lệ 70:30 thể tích). Tốc độ dòng 1,2 mL/phút. Detector tử ngoại đặt ở bước sóng phát hiện $\lambda = 205\text{ nm}$. Thể tích tiêm mẫu $20\text{ }\mu\text{L}$.
- Thẩm định phương pháp: Đánh giá độ chọn lọc, độ tuyến tính, độ đúng, độ chính xác (tính thích hợp hệ thống, độ lặp lại) theo hướng dẫn của AOAC.
Nguồn dữ liệu và xử lý số liệu:
- Dữ liệu thu thập trực tiếp từ các phép đo thực nghiệm trên 15 mẫu dược liệu thân Đinh lăng tại Bộ môn Dược liệu, Trường Đại học Dược Hà Nội.
- Số liệu được thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel, trình bày dưới dạng giá trị trung bình cộng kèm sai số chuẩn ($\bar{X} \pm SE$) hoặc độ lệch chuẩn ($SD$). Khoảng chấp nhận cho các chỉ tiêu được tính toán dựa trên quy tắc "3-sigma" ($99,7%$ độ tin cậy) trong phân phối chuẩn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về loài Polyscias fruticosa và xây dựng tiêu chuẩn dược liệu
Chương này tổng kết toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về loài Polyscias fruticosa:
- Vị trí phân loại thực vật, mô tả hình thái, đặc điểm sinh thái, vùng phân bố tự nhiên từ vùng đảo Polynésie và lịch sử phát triển vùng trồng dược liệu tại Việt Nam từ năm 1961.
- Hóa thực vật: Trình bày chi tiết cấu trúc hóa học của 18 saponin triterpenoid đã được phân lập, trong đó phần aglycon (genin) đều là acid oleanolic; các polysciosid từ A đến K; các dẫn xuất polyacetylen như (8E)-heptadeca-1,8-dien-4,6-diyn-3,10-diol và falcarinol; 20 loại acid amin tự do; phytosterol và các hợp chất bay hơi trong tinh dầu. Dẫn chứng số liệu định lượng trước đây: hàm lượng saponin toàn phần trong rễ là 0,49%, vỏ rễ 1,00%, lõi rễ 0,11%, lá 0,38%; hàm lượng acid oleanolic trong rễ dao động từ 0,001% đến 0,063%, trong khi ở thân và lá đạt mức khoảng 1,5%.
- Tác dụng sinh học: Tổng hợp các dữ liệu dược lý thực nghiệm chứng minh tác dụng cải thiện trí nhớ thông qua thụ thể ChAT và muscarinic M5 ở chuột bị thiếu máu não cục bộ; tác dụng kích thích thần kinh trung ương ở khoảng liều 45-180 mg/kg; tác dụng tăng lực, phục hồi thể lực tương đương nhân sâm; tác dụng lợi tiểu tương tự furosemid nhưng có ưu điểm giữ ion clo; tác dụng ức chế $\alpha$-amylase và $\alpha$-glucosidase làm hạ đường huyết sau ăn; tác dụng kích thích sinh sản trên cả chuột đực và chuột cái. Độc tính cấp đường tiêm phúc mạc của dịch chiết Đinh lăng có $LD_{50} = 32,9\text{ g/kg}$, thấp hơn độc tính của nhân sâm ($LD_{50} = 16,5\text{ g/kg}$).
- Nguyên tắc xây dựng tiêu chuẩn: Phân tích các quy định của DĐVN V, EDQM và WHO về quy trình xây dựng TCCS dược liệu (cảm quan, vi học, định tính, thử tinh khiết, định lượng hoạt chất). Khảo sát chuyên luận "Đinh lăng (rễ)" trong DĐVN V để làm hệ quy chiếu đối sánh.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả rõ ràng vật liệu, trang thiết bị và các quy trình kỹ thuật:
- Liệt kê 15 mẫu thân Đinh lăng thu hái tại Nam Định, phân loại theo xuất xứ (Hải An, Rạng Đông, Nam Điền, Hải Châu, Hải Thanh, Hải Giang), tuổi cây (từ 3,5 đến 7 năm) và thời gian lưu mẫu (từ 0,3 đến 14 tháng).
- Chi tiết nguồn gốc hóa chất: Chuẩn đối chiếu acid oleanolic có hàm lượng 97,0% (số kiểm soát 030520) được cung cấp bởi Viện Kiểm nghiệm thuốc Thành phố Hồ Chí Minh; hóa chất đạt chuẩn HPLC (methanol, acetonitril, acid phosphoric); hóa chất đạt chuẩn phân tích ($HCl, H_2SO_4, CHCl_3$, xanh methylen, đỏ son phèn...).
- Danh mục máy móc, thiết bị hiện đại: Cột chiết pha rắn SPE C18 500 mg, hệ thống máy chấm mẫu tự động Linomat 5 và buồng chụp ảnh bản mỏng TLC Visualiser (CAMAG, Thụy Sỹ), hệ thống HPLC Shimadzu (Nhật Bản), kính hiển vi quang học Labomed.
- Quy chuẩn hóa các phương pháp tiến hành kiểm nghiệm: Cắt lát vi phẫu, kỹ thuật soi bột dược liệu, quy trình thử nghiệm các phản ứng hóa học định tính, quy trình sắc ký bản mỏng, các phép đo độ ẩm, độ tro, hàm lượng chất chiết, quy trình SPE làm sạch dịch thủy phân và quy trình chạy sắc ký lỏng hiệu năng cao định lượng acid oleanolic.
Chương 3: Thực nghiệm, kết quả và thảo luận
Chương này công bố đầy đủ các kết quả thực nghiệm và thảo luận khoa học:
- Đặc điểm cảm quan và giải phẫu:
- Thân Đinh lăng có hình trụ, đường kính 2-5 cm, được thái phiến vát dày 1-1,5 cm. Bần màu nâu xám có rãnh dọc. Mặt cắt ngang thể hiện phần gỗ màu trắng ngà, chất gỗ cứng chắc, không thấy vân đồng tâm, ở chính giữa có một lõi rỗng nhỏ. Dược liệu có mùi thơm nhẹ.
- Tiêu bản vi phẫu cắt ngang cho thấy: Lớp bần ngoài cùng gồm nhiều lớp tế bào hình chữ nhật hẹp xếp đồng tâm và xuyên tâm; mô dày góc gồm 2-3 lớp tế bào đa giác vách dày ở các góc bắt màu hồng đậm; tế bào mô cứng hình chữ nhật hóa gỗ rải rác sát bần; mô mềm vỏ tế bào vách mỏng để hở gian bào, rải rác chứa tinh thể calci oxalat hình cầu gai và hình khối; sợi mô cứng tụ thành từng đám lớn trong mô mềm vỏ. Đặc điểm giải phẫu quan trọng nhất là vùng libe - gỗ thứ cấp liên tục không chia bó (khác biệt hoàn toàn so với rễ Đinh lăng trong DĐVN V có libe-gỗ bị các tia tủy chia thành từng bó hình nón riêng biệt). Gỗ thứ cấp gồm các dãy tế bào hình đa giác xếp thẳng hàng, xen kẽ với các tia mô mềm gỗ; trong cùng là mô mềm ruột.
- Bột dược liệu màu vàng nhạt, thơm nhẹ, đặc trưng bởi các hạt tinh bột đơn hoặc kép đường kính 10-20 $\mu\text{m}$, mảnh bần màu đỏ nâu hoặc vàng nhạt, mảnh mạch mạng hình thang, bó sợi thành dày, tinh thể calci oxalat hình khối hoặc cầu gai kích thước 10-20 $\mu\text{m}$ và mảnh mô mềm chứa tinh bột.
- Phép thử định tính:
- Bằng phản ứng hóa học: Khẳng định sự có mặt của 6 nhóm chất hữu cơ gồm saponin, polysaccharid, đường khử, acid hữu cơ, acid amin và sterol tự do. Ở mức lượng mẫu 10 g, cả 6 nhóm chất đều cho phản ứng dương tính rõ rệt; ở mức 2 g chỉ phát hiện được saponin và acid amin; ở mức 0,5 g không phát hiện được nhóm nào. Từ đó, tác giả đề xuất đưa phản ứng tạo bọt và phản ứng Liebermann-Bouchard vào TCCS để kiểm soát saponin.
- Bằng TLC: Trên bản mỏng Silica gel $60\text{ }F_{254}$ triển khai trong hệ cloroform - methanol (40:1), sau khi phun thuốc thử vanilin 1% trong acid sulfuric và sấy $105^\circ\text{C}$, cả 15 mẫu thân Đinh lăng đều xuất hiện vết màu đỏ tía (ở ánh sáng thường) và phát huỳnh quang (dưới UV 366 nm) tại cùng giá trị hệ số lưu giữ $R_f \approx 0,7$, trùng khớp hoàn toàn với vết của chất đối chiếu acid oleanolic.
- Số liệu hóa lý và định lượng:
- Đo độ ẩm trên 15 mẫu cho giá trị trung bình $8,23 \pm 0,86%$ (dao động 6,17% - 9,73%).
- Đo độ tro toàn phần cho giá trị trung bình $5,34 \pm 0,19%$ (dao động 5,03% - 5,74%).
- Đo hàm lượng chất chiết được trong nước nóng đạt trung bình $17,87 \pm 1,47%$ (dao động 14,27% - 19,85%).
- Định lượng HPLC ghi nhận hàm lượng acid oleanolic trong thân Đinh lăng dao động từ 0,048 mg/g đến 0,499 mg/g (trung bình $0,20 \pm 0,16\text{ mg/g}$). Tác giả thảo luận về sự phân hóa sâu sắc giữa hai nhóm mẫu: Nhóm TM1-TM8 thu hái đúng kỹ thuật và mới lưu mẫu 0,3 tháng có hàm lượng acid oleanolic cao (0,187 - 0,499 mg/g); ngược lại, nhóm TM9-TM15 do người dân tự thu hái và có thời gian lưu mẫu kéo dài từ 3 đến 14 tháng có hàm lượng hoạt chất sụt giảm rõ rệt (chỉ đạt 0,048 - 0,082 mg/g), gợi ý hiện tượng hoạt chất bị phân hủy dần theo thời gian bảo quản.
- Dự thảo Tiêu chuẩn cơ sở: Từ các dữ liệu thực nghiệm, tác giả đã biên soạn hoàn chỉnh dự thảo TCCS cho dược liệu thân Đinh lăng bao gồm các chỉ tiêu: Mô tả cảm quan, Đặc điểm vi phẫu, Đặc điểm vi học bột, Định tính hóa học, Định tính TLC, Giới hạn độ ẩm ($\le 11,0%$), Giới hạn tro toàn phần ($\le 6,0%$), Chất chiết được trong nước nóng ($\ge 13,0%$), và Hàm lượng acid oleanolic ($\ge 0,12\text{ mg/g}$ tính theo dược liệu khô kiệt).
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã thu thập và xử lý số liệu kiểm nghiệm đầy đủ trên 15 mẫu dược liệu thân Đinh lăng thu hái từ các vùng trồng GACP tỉnh Nam Định. Bảng dưới đây tổng hợp kết quả thực nghiệm và các mức chỉ tiêu kỹ thuật được đề xuất trong dự thảo TCCS, đồng thời đối sánh với chuyên luận rễ Đinh lăng hiện hành trong DĐVN V:
| Chỉ tiêu kiểm nghiệm |
Kết quả thực nghiệm thân Đinh lăng ($\bar{X} \pm SD$ hoặc khoảng giá trị) |
Mức chất lượng đề xuất trong Dự thảo TCCS thân Đinh lăng |
Quy định tại Chuyên luận Rễ Đinh lăng (DĐVN V) |
| Đặc điểm vi phẫu |
Tiết diện tròn, libe - gỗ thứ cấp không chia bó |
Phải có cấu trúc libe - gỗ thứ cấp không chia bó |
Libe - gỗ thứ cấp chia thành từng bó hình nón |
| Độ ẩm (%) |
$8,23 \pm 0,86%$ (6,17% – 9,73%) |
Không quá $11,0%$ |
Không quá $13,0%$ |
| Tro toàn phần (%) |
$5,34 \pm 0,19%$ (5,03% – 5,74%) |
Không quá $6,0%$ |
Không quá $8,0%$ |
| Chất chiết được (%) |
$17,87 \pm 1,47%$ (14,27% – 19,85%) (nước nóng) |
Không ít hơn $13,0%$ (khô kiệt, nước nóng) |
$\ge 5,0%$ (ethanol 90%); $\ge 2,0%$ (n-butanol) |
| Định tính Saponin |
(+) Tạo bọt; (+) Liebermann-Bouchard |
Phải có bọt bền $\ge 10$ phút; xuất hiện vòng đỏ |
Tạo bọt bền $\ge 10$ phút; xuất hiện vòng đỏ |
| Định tính TLC |
Vết đỏ tía/huỳnh quang $R_f \approx 0,7$ |
Trùng màu sắc và giá trị $R_f$ với acid oleanolic |
Trùng vết với acid oleanolic và rễ chuẩn |
| Hàm lượng Acid oleanolic (mg/g) |
$0,20 \pm 0,16\text{ mg/g}$ (0,048 – 0,499 mg/g) |
Không ít hơn $0,12\text{ mg/g}$ (khô kiệt) |
Chưa quy định trong chuyên luận rễ |
Các giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:
- Kiến nghị đưa chỉ tiêu định lượng acid oleanolic bằng HPLC vào quy trình kiểm soát chất lượng dược liệu Đinh lăng, khắc phục tình trạng chuyên luận rễ hiện tại trong DĐVN V mới dừng lại ở chỉ tiêu chất chiết được mà chưa định lượng hoạt chất chính.
- Sử dụng phương pháp chiết pha rắn (SPE) với cột C18 để làm sạch dịch thủy phân trước khi tiêm HPLC. Đây là giải pháp xử lý mẫu đồng bộ, có độ lặp lại cao, giúp loại bỏ tạp chất gây nhiễu và bảo vệ cột phân tích tốt hơn so với phương pháp chiết lỏng - lỏng truyền thống.
- Đề xuất các nhà máy sản xuất thuốc cổ truyền và thực phẩm bảo vệ sức khỏe nghiên cứu sử dụng kết hợp thân Đinh lăng cùng với bộ phận rễ trong các công thức hoạt huyết dưỡng não và thuốc bổ, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và khai thác tối đa nguồn sinh khối trồng trọt.
Đóng góp mới của khóa luận so với các nghiên cứu trước:
- Đây là công trình thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam xây dựng có hệ thống một bộ tiêu chuẩn cơ sở toàn diện cho bộ phận thân Đinh lăng lá xẻ đạt chuẩn GACP, cung cấp đầy đủ các thông số giải phẫu vi học, hóa lý và phân tích hoạt chất.
- Xác định được tiêu chí vi giải phẫu then chốt (tầng libe - gỗ thứ cấp không chia bó ở thân so với cấu trúc chia bó hình nón ở rễ) giúp các kiểm nghiệm viên phân biệt chính xác hai bộ phận dùng này, tránh nhầm lẫn hoặc gian lận dược liệu.
- Phát hiện quy luật suy giảm hàm lượng acid oleanolic theo thời gian lưu mẫu (từ mức xấp xỉ 0,5 mg/g giảm xuống dưới 0,05 mg/g sau 14 tháng), đóng góp dữ liệu thực nghiệm quan trọng cho việc nghiên cứu độ ổn định và xác định thời hạn bảo quản dược liệu thân Đinh lăng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Dung lượng mẫu khảo sát còn khiêm tốn (15 mẫu) và phạm vi thu hái mới chỉ tập trung tại các xã thuộc vùng trồng GACP của một tỉnh duy nhất là Nam Định, chưa phản ánh được sự biến thiên chất lượng của dược liệu trên phạm vi toàn quốc.
- Có sự chênh lệch lớn về hàm lượng hoạt chất giữa hai nhóm mẫu (TM1-TM8 và TM9-TM15) do sự khác biệt về kỹ thuật thu hái (nhóm nghiên cứu trực tiếp thu hái so với người dân tự thu hái) và thời gian lưu trữ mẫu trước khi kiểm nghiệm chưa được chuẩn hóa đồng nhất.
- Khóa luận chưa tiến hành nghiên cứu thực nghiệm song song về độc tính và hoạt tính sinh học trực tiếp trên các dịch chiết từ thân Đinh lăng để so sánh hiệu lực dược lý tương đương với dịch chiết rễ.
Hướng nghiên cứu tiếp được tác giả đề xuất:
- Mở rộng quy mô nghiên cứu trên số lượng mẫu lớn hơn, thu thập tại nhiều vùng địa lý, điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu khác nhau trên cả nước nhằm hoàn thiện tiêu chuẩn có tính đại diện cao.
- Thực hiện các nghiên cứu theo dõi độ ổn định dài hạn và lão hóa cấp tốc nhằm xác định chính xác cơ chế phân hủy của acid oleanolic, từ đó xây dựng quy trình đóng gói, bảo quản và thời hạn sử dụng tối ưu cho thân Đinh lăng.
- Đẩy mạnh nghiên cứu độc tính và tác dụng dược lý thực nghiệm của thân Đinh lăng để bổ sung chứng cứ khoa học vững chắc, tiến tới kiến nghị Hội đồng Dược điển đưa bộ phận thân Đinh lăng vào các ấn bản Dược điển Việt Nam tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:
- Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Dược liệu, Kiểm nghiệm thuốc và Độc chất, Hóa thực vật: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho một bộ phận dùng mới của cây thuốc theo hướng dẫn của DĐVN V, EDQM và WHO.
- Kiểm nghiệm viên tại các Viện Kiểm nghiệm thuốc, Trung tâm Kiểm nghiệm Dược phẩm - Mỹ phẩm và các phòng Kiểm tra chất lượng (QC) của nhà máy dược phẩm: Tham khảo các tiêu chí vi học (bản ảnh vi phẫu, soi bột) để kiểm nghiệm nhận biết dược liệu, phân biệt phần thân và phần rễ Đinh lăng.
- Nghiên cứu viên phòng R&D tại các doanh nghiệp sản xuất thuốc từ dược liệu: Ứng dụng trực tiếp quy trình xử lý mẫu sạch bằng cột chiết pha rắn (SPE C18) và thông số vận hành HPLC-DAD để định lượng hoạt chất acid oleanolic trong nguyên liệu và chế phẩm chứa Đinh lăng.
- Các đơn vị quản lý và phát triển vùng trồng dược liệu GACP: Có thêm cơ sở kỹ thuật để xây dựng quy trình thu hái, sơ chế và bảo quản thân Đinh lăng, giúp gia tăng giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác.
Câu hỏi thường gặp
1. Dựa vào đặc điểm giải phẫu vi phẫu nào để phân biệt chắc chắn giữa thân và rễ Đinh lăng?
Đặc điểm giải phẫu phân biệt rõ rệt nhất nằm ở cấu trúc tầng libe - gỗ thứ cấp:
- Ở vi phẫu thân Đinh lăng: Libe - gỗ thứ cấp liên tục, hoàn toàn không chia bó. Vùng libe thứ cấp nằm ngoài gồm các tế bào vách mỏng ngoằn ngoèo uốn lượn; vùng gỗ thứ cấp ở trong gồm các dãy tế bào hình đa giác vách dày hóa gỗ xếp thẳng hàng.
- Ở vi phẫu rễ Đinh lăng (theo DĐVN V): Libe - gỗ thứ cấp bị các tia tủy chia cắt tạo thành các bó hình nón riêng biệt.
2. Quy trình xử lý mẫu để định lượng acid oleanolic trong thân Đinh lăng bằng HPLC gồm những bước chính nào?
Quy trình xử lý mẫu trải qua 3 giai đoạn:
- Chiết xuất: Cân khoảng 5 g bột dược liệu (qua rây 500), chiết 2 lần bằng methanol dưới tác động của sóng siêu âm (15 phút/lần), ly tâm gạn lấy dịch và cất thu hồi dung môi còn 30 mL.
- Thủy phân: Thêm 15 mL dung dịch $HCl$ 6 M vào dịch chiết, đun hồi lưu cách thủy trong 3 giờ để giải phóng aglycon (acid oleanolic), làm nguội và định mức thành 50 mL bằng methanol.
- Làm sạch qua SPE: Hút 1,0 mL dịch thủy phân nạp lên cột chiết pha rắn Agilent C18 (500 mg). Rửa cột bằng methanol 5% đến khi dịch chảy ra trung tính (kiểm tra bằng giấy quỳ), sau đó rửa giải hoạt chất bằng 5 mL methanol tinh khiết. Dịch rửa giải được cô cách thủy đến cắn, hòa tan vừa đủ trong 1,0 mL methanol và lọc qua màng 0,45 $\mu\text{m}$ trước khi tiêm sắc ký.
3. Tại sao có sự chênh lệch lớn về hàm lượng acid oleanolic giữa nhóm mẫu TM1-TM8 và nhóm mẫu TM9-TM15?
Sự khác biệt bắt nguồn từ hai nguyên nhân chính được tác giả ghi nhận:
- Thời gian lưu mẫu: Nhóm TM1-TM8 được phân tích rất sớm sau khi thu hái (thời gian lưu mẫu chỉ 0,3 tháng), hàm lượng hoạt chất đạt từ 0,187 mg/g đến 0,499 mg/g. Nhóm TM9-TM15 có thời gian lưu mẫu kéo dài từ 3 đến 14 tháng, hàm lượng giảm xuống chỉ còn 0,048 mg/g đến 0,082 mg/g. Điều này chỉ ra rằng acid oleanolic có xu hướng bị phân hủy theo thời gian bảo quản.
- Kỹ thuật thu hái: Nhóm TM1-TM8 do chính nhóm nghiên cứu thu hái trực tiếp tại vùng trồng GACP đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật, trong khi nhóm TM9-TM15 do người dân tự thu hái và sơ chế, điều kiện bảo quản có thể chưa đạt chuẩn tối ưu.
4. Dự thảo tiêu chuẩn cơ sở đề xuất mức giới hạn cho các chỉ tiêu hóa lý và định lượng của thân Đinh lăng là bao nhiêu?
Dựa trên kết quả thực nghiệm 15 mẫu và áp dụng quy tắc 3-sigma, dự thảo TCCS đề xuất:
- Độ ẩm (mất khối lượng do làm khô): Không quá $11,0%$.
- Tro toàn phần: Không quá $6,0%$.
- Chất chiết được trong nước nóng: Không ít hơn $13,0%$ tính theo dược liệu khô kiệt.
- Định lượng hoạt chất: Hàm lượng acid oleanolic ($C_{30}H_{48}O_3$) không được ít hơn $0,12\text{ mg/g}$ tính theo dược liệu khô kiệt.
5. Điều kiện sắc ký lớp mỏng (TLC) được lựa chọn để định tính thân Đinh lăng có đặc điểm gì?
Phương pháp TLC sử dụng bản mỏng Silica gel $60\text{ }F_{254}$, pha động khai triển là hệ dung môi cloroform - methanol ($CHCl_3 - MeOH$, tỷ lệ 40:1 thể tích). Thuốc thử hiện màu là dung dịch vanilin 1% trong acid sulfuric đậm đặc, sấy bản mỏng ở $105^\circ\text{C}$. Phép thử được đánh giá là đạt yêu cầu khi trên sắc ký đồ của dung dịch thử xuất hiện vết có cùng màu sắc (màu đỏ tía ở ánh sáng thường, phát huỳnh quang ở UV 366 nm) và cùng giá trị hệ số lưu giữ ($R_f \approx 0,7$) với vết của chất đối chiếu acid oleanolic.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Dịu đã giải quyết thấu đáo bài toán thực tiễn về việc tận dụng nguồn sinh khối thân cây Đinh lăng (Polyscias fruticosa) trồng tại Nam Định thông qua việc thiết lập một hệ thống tiêu chuẩn kiểm nghiệm đồng bộ từ cảm quan, vi học giải phẫu đến hóa lý và định lượng hoạt chất. Nghiên cứu đã xác định được tiêu chí vi phẫu then chốt (libe - gỗ thứ cấp không chia bó) để phân biệt thân với rễ Đinh lăng, đồng thời chuẩn hóa thành công quy trình xử lý mẫu qua cột chiết pha rắn (SPE) kết hợp HPLC-DAD định lượng chính xác marker acid oleanolic. Các dữ liệu thực nghiệm trên 15 lô mẫu đã tạo cơ sở khoa học vững chắc để xây dựng bản dự thảo Tiêu chuẩn cơ sở hoàn chỉnh, mở ra tiềm năng lớn cho việc ứng dụng chính thức bộ phận thân Đinh lăng trong sản xuất dược phẩm và tối ưu hóa chuỗi giá trị dược liệu tại Việt Nam.