Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tiếp nhận pháp luật và các nguyên tắc quản trị công ty của OECD đối với doanh nghiệp nhà nƣớc Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản trị tập đoàn kinh tế nhà nƣớc Việt Nam trong mối liên hệ với các nguyên tắc quản trị công ty của OECD Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật quản trị tập đoàn kinh tế nhà nƣớc ở Việt Nam với sự chú ý, tham khảo các nguyên tắc quản trị công ty của OECD. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TIẾP NHẬN PHÁP LUẬT VÀ CÁC NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA OECD ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 1. Quan điểm về tiếp nhận pháp luật Tiếp nhận pháp luật là một lĩnh vực không mới ở nƣớc ngoài nhƣng còn là một khái niệm mới ở Việt Nam. Khi nghiên cứu việc áp dụng những quy phạm pháp luật nƣớc ngoài hay những học thuyết pháp lý, những thông lệ quốc tế thì có nhiều thuật ngữ khác nhau đƣợc sử dụng nhƣ: chuyển giao pháp luật, vay mƣợn pháp luật, hài hòa hóa pháp luật, thích nghi pháp luật, cấy ghép pháp luật.
Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ chuyển giao pháp luật (legal transplant) lần đầu tiên đƣợc sử dụng vào năm 1974 trong hai nghiên cứu độc lập của Alan Watson và của Kahn Freund. Theo đó thì “legal transplant” là việc đƣa quy định pháp luật từ một quốc gia này sang áp dụng tại một quốc gia hay đây là quá trình mà luật và các chế định pháp lý đƣợc xây dựng ở một quốc gia sau đó đƣợc chấp nhận và thực hiện ở một quốc gia khác [30]. Nhà tƣ tƣởng Pháp Montesquieu và học giả Pierre Legrand lại có quan điểm phủ nhận khả năng tiếp nhận pháp luật nƣớc ngoài và cho rằng, "pháp luật của mỗi quốc gia gắn liền với điều kiện tự nhiên, xã hội và con người của quốc gia đó, cho nên nó không thể “sống” trong một môi trường khác" [36]. Và Pierre Legrand đã thẳng thừng bác bỏ: “Nói một cách thẳng thắn, trong trường hợp tốt nhất, điều có thể du nhập từ nước này vào nước khác chỉ là những từ ngữ vô hồn" [55].
Ở Việt Nam, áp dụng pháp luật trong quá trình xây dựng pháp luật trong nƣớc - legal transplant (trong tiếng Anh) thƣờng đƣợc sử dụng dƣới tên gọi “tiếp nhận” pháp luật nƣớc ngoài hoặc cấy ghép pháp luật. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo nhà luật học Bùi Xuân Hải "Cấy ghép pháp luật đƣợc hiểu là quá trình “di chuyển” của các quy tắc pháp lý hay các chế định pháp luật (hoặc có thể là các học thuyết pháp lý) từ nƣớc này sang nƣớc khác trong quá trình làm luật và cải cách pháp luật. Sự di chuyển này thể hiện ở việc các quy tắc, chế định, học thuyết pháp lý của nƣớc A đƣợc nƣớc B tiếp nhận và đƣa vào hệ thống pháp luật của mình. Việc tiếp nhận có thể thực hiện ở nhiều cấp độ: quy tắc đơn lẻ, một chế định, một nguyên tắc pháp lý và thậm chí, cả cấu trúc pháp luật [30].
Nhà luật học Phạm Duy Nghĩa cho rằng “tiếp nhận pháp luật không chỉ bao gồm việc vay mƣợn pháp luật ngoại quốc bởi các cơ quan soạn thảo và ban hành pháp luật. Cũng nhƣ văn hoá nói chung, sự tiếp nhận pháp luật diễn ra bởi nhiều kênh giao lƣu khác nhau; càng tự nhiên thì càng có hiệu quả; ngƣợc lại càng gƣợng ép hoặc bắt buộc thì dƣờng nhƣ càng thất bại”. Theo đó, tiếp nhận pháp luật không phải là việc máy móc áp dụng những quy phạm pháp luật, những nguyên tắc pháp lý trong các văn bản luật của một hay nhiều quốc gia vào pháp luật của nƣớc mình mà nó là quá trình nghiên cứu, học hỏi những quy tắc những chế định pháp lý trong từng lĩnh vực pháp luật khác nhau bằng nhiều cách thức khác nhau nhƣ: nội luật hoá các công ƣớc, điều ƣớc, hiệp định quốc tế song và đa phƣơng; những cam kết khi tham gia vào một tổ chức quốc tế; thông qua việc áp dụng các luật mẫu; các điều lệ của các tổ chức nghề nghiệp, các thông lệ quốc tế; nghiên cứu khoa học, đào tạo và trao đổi tƣ liệu [38, Chƣơng 3]. Thạc sỹ Nguyễn Đức Lam cùng quan điểm với học giả Teubner cho rằng: Lý luận về tiếp nhận pháp luật cần phải có “cái nhìn có tính chủ thuyết tinh tế về thực tiễn tiếp nhận”.
“Cái nhìn có tính chủ thuyết tinh tế” của ông bao gồm bốn luận điểm về hình dạng của những mối liên hệ pháp lý: thứ nhất, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các mối liên hệ của pháp luật hiện này không còn mang tính toàn diện nữa, mà trải từ những mối liên hệ lỏng lẻo đến chặt chẽ nhất; thứ hai, chúng không kết nối với toàn thể xã hội, mà với từng mảng trong xã hội; thứ ba, ở những nơi trƣớc đây pháp luật gắn với xã hội bởi tính đồng nhất của nó, thì giờ đây các mối liên hệ đƣợc thiết lập bởi tính khác biệt; thứ tƣ, các mối liên hệ không còn nhập vào một con đƣờng phát triển lịch sử chung nữa, mà tách thành hai hay ba con đƣờng tiến hóa độc lập và xung đột với nhau [33]. Xem xét những quan điểm nêu trên tác giả có cùng quan điểm về tiếp nhận pháp luật với nhà luật học Phạm Duy Nghĩa cho rằng tiếp nhận pháp luật là sự nghiên cứu, đánh giá và học hỏi và đƣa vào hệ thống pháp luật của mình một cách có chọn lọc các quy tắc pháp lý, chế định luật, học thuyết pháp lý hay các thông lệ quốc tế của các quốc gia khác hoặc tổ chức quốc tế, khu vực (thuộc chính phủ hoặc phi chính phủ). Sự tiếp nhận này đƣợc áp dụng ở mỗi nƣớc là khác nhau và đƣợc chọn lọc dựa trên các điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và hệ thống pháp luật hiện tại của từng quốc gia. Với phạm vi nghiên cứu của đề tài, trong nội dung nghiên cứu lý luận về tiếp nhận pháp luật dƣới đây, tác giả tập trung nghiên cứu lý luận về tiếp nhận thông lệ quốc tế mà cụ thể là các nguyên tắc quản trị công ty của OECD với các nội dung về phƣơng thức tiếp nhận, điều kiện tiếp nhận hiệu quả và cơ chế tiếp nhận pháp luật đối với pháp luật về quản trị TĐKT nhà nƣớc Việt Nam.
Nội dung các nguyên tắc quản trị công ty của OECD 1. Quan niệm về quản trị công ty của OECD Tổ chức Phát triển và Hợp tác kinh tế thành lập năm 1961 trên cơ sở Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu (OEEC) với 20 thành viên sáng lập gồm các nƣớc có nền kinh tế phát triển trên thế giới nhƣ Mỹ, Canada và các nƣớc Tây Âu. Hiện nay, số thành viên của OECD là 30 quốc gia, gồm Mỹ, Canada, Áo, Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hy Lạp, Iceland, Ireland, Ý, Luxembourg, Hà Lan, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh, Nhật Bản, Phần Lan, Úc, New Zealand, Hàn Quốc, Mexico, Cộng hòa Séc, Hungary, Ba Lan, Cộng hòa Slovakia [33]. Trên thế giới, OECD đã có nhiều các nghiên cứu và báo cáo đánh giá về tình hình quản trị công ty của các nƣớc nhƣng chủ yếu tập trung ở các nƣớc thành viên.
Trên cơ sở việc nghiên cứu và đánh giá đó năm 1999, OECD đã ban hành các nguyên tắc quản trị công ty. Bộ nguyên tắc này cung cấp các tiêu chuẩn không bắt buộc và các thông lệ tốt cũng nhƣ hƣớng dẫn thực hiện các tiêu chuẩn và thông lệ tốt này, có thể điều chỉnh cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia và khu vực. Tổ chức Phát triển và Hợp tác kinh tế (OECD) (2004) quan niệm "quản trị công ty liên quan tới một tập hợp các mối quan hệ giữa Ban Giám đốc, Hội đồng quản trị, cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan khác" [40, tr. Khái niệm này đƣợc cho là phù hợp với yêu cầu của bối cảnh kinh tế mới khi mà quản trị công ty gắn chặt và bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu cũng nhƣ các chủ nợ, ngƣời cung cấp, ngƣời lao động, khách hàng của công ty.
Mục tiêu cải thiện quản trị công ty là nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua các công cụ đòn bẩy và khuyến khích các nhà quản lý và ngƣời lao động tối đa hóa hiệu quả hoạt động của mình; hạn chế tình trạng lạm dụng quyền lực của các nhà quản lý; cung cấp các công cụ giám sát hành vi của ngƣời quản lý và đảm bảo trách nhiệm giải trình của ngƣời quản lý. Đồng thời, OECD cho rằng, các lỗ hổng về quản trị công ty là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến và làm trầm trọng thêm khủng hoảng tài chính năm 1997 ở châu Á nên đã phát triển và bổ sung hoàn thiện các nguyên tắc quản trị công ty (5 nguyên tắc) vào năm 1999 đến năm 2004 lại bổ sung thêm 1 nguyên tắc nữa. Sáu nguyên tắc này có thể tóm tắt ở các điểm mấu chốt sau: (1) quản trị công ty cần bảo đảm các quyền cơ bản của 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các chủ sở hữu; (2) quản trị công ty phải đối xử công bằng giữa các chủ sở hữu và bảo đảm quyền đƣợc bồi thƣờng khi quyền chủ sở hữu bị xâm phạm; (3) quản trị công ty phải đƣợc tôn trọng các quyền của chủ sở hữu đƣợc pháp luật quy định và khuyến khích hỗ trợ cho sự hợp tác giữa doanh nghiệp và chủ sở hữu vì sự thịnh vƣợng của doanh nghiệp, có việc làm và có nền tảng tài chính lành mạnh, bền vững; (4) quản trị công ty cần tạo cơ chế để tình hình tài chính, kết quả hoạt động, các thông tin về chủ sở hữu và giám sát doanh nghiệp đƣợc công khai một cách kịp thời và xác thực; (5) quản trị công ty phải đƣa ra những hƣớng dẫn chiến lƣợc của doanh nghiệp cũng nhƣ việc giám sát có hiệu quả công tác quản lý của Hội đồng quản trị và trách nhiệm giải trình của Hội đồng quản trị đối với chủ sở hữu; (6) quản trị công ty cần phù hợp với các quy định pháp lý; hỗ trợ cho các thị trƣờng một cách minh bạch và có hiệu quả; gắn chặt với việc phân chia trách nhiệm giữa các cơ quan giám sát, lập pháp và hành pháp có thẩm quyền.