Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải thể doanh nghiệp Chương 2: Thực tiễn thi hành pháp luật về giải thể doanh nghiệp tại công ty cổ phần JM 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về doanh nghiệp và giải thể doanh nghiệp 1.1 Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm doanh nghiệp Với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, tạo điều kiện cho mọi người cùng tham gia phát triển kinh tế của nhà nước, nhiều chủ thể kinh doanh đã tham gia thực hiện hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế nhiều thành phần của nước ta. Trong đó, nhóm các chủ thể kinh doanh quan trọng nhất là các doanh nghiệp. Tùy cách tiếp cận, khái niêm doanh nghiệp cũng được nhìn nhận khác nhau.
Nhìn từ góc độ kinh tế, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận và lấy hoạt động kinh doanh làm nghề chính. Nó chỉ mang tính chất như một vỏ bọc hình thức để hợp pháp hoá các giao dịch, chi phí và hoạt động kinh doanh của các thành viên công ty. Người ta xem doanh nghiệp như một cái áo khoác pháp lý để thực hiện ý tưởng kinh doanh [9, tr. Nhìn từ góc độ pháp lý, doanh nghiệp là một chủ thể pháp luật, được tạo nên bởi một sự kiện pháp lý, có nghề nghiệp kinh doanh và hoạt động với tư cách một chủ thể độc lập.
Thuật ngữ “doanh nghiệp” được dùng để chỉ một chủ thể kinh tế độc lập, được thành lập và hoạt động dưới nhiều mô hình cụ thể với tên gọi khác nhau. Theo đó, doanh nghiệp được xác lập bằng thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh, có năng lực chủ thể để tham gia các quan hệ pháp luật và có quyền tự chủ trong các hoạt động kinh doanh. Những chủ thể này có đặc trưng pháp lý trong việc thành lập và hoạt động, nó phải thỏa mãn những điều kiện do pháp luật quy định. Muốn kinh doanh, các thương nhân chọn lấy một trong số những loại hình mà người làm luật quy định.
Qua các thời kỳ, quan điểm pháp lý về doanh nghiệp cũng có những thay đổi nhất định phù hợp với thực tiễn kinh doanh. Ở Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước bắt đầu được phát triển từ năm 1948. Theo Sắc lệnh số 104-SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ngày 01/01/1948, doanh nghiệp nhà nước lúc bấy giờ gọi là doanh nghiệp quốc gia. Điều 2 của Sắc lệnh ghi nhận: “Doanh nghiệp quốc gia là 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của quốc gia và do quốc gia điều khiển”.
Đến năm 1991, thuật ngữ “doanh nghiệp nhà nước” được chính thức sử dụng trong Nghị định số 388-HĐBT năm 1991 [18, tr 177]. Tuy vậy, mãi tới năm 1995, mới có những nỗ lực đầu tiên để “công ty hóa” về mặt ý niệm đối với doanh nghiệp nhà nước. Cụ thể là, theo Luật Doanh nghiệp nhà nước 1995: “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao”. Cũng theo luật này, Doanh nghiệp nhà nước tồn tại dưới các hình thức: doanh nghiệp độc lập, tổng công ty, doanh nghiệp thành viên của tổng công ty.
Và theo Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003, “doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, phần góp vốn chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.” Tại Luật Công ty 1990, khái niệm về công ty được nêu tại điều 2 “Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, gọi chung là công ty, là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình góp vào công ty”. Có thể thấy ở giai đoạn này, luật công ty của Việt Nam chỉ nhìn nhận hai loại hình chủ yếu được gọi là công ty đó là công ty TNHH và công ty cổ phần, trong khi hợp danh là một loại hình công ty đã tồn tại lâu đời và được ghi nhận ở hầu khắp các quốc gia lại chưa được đề cập đến. Đây có thể xem là một điểm thiếu sót của các nhà làm luật, dẫn đến khái niệm về doanh nghiệp bị bó hẹp trong phạm vi các loại hình doanh nghiệp. Đến Luật doanh nghiệp 2005, mới có cách hiểu thống nhất về doanh nghiệp: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [10, Điều 4].
Định nghĩa này cho thấy chỉ những chủ thể kinh doanh thoả mãn những điều kiện trên mới có tư cách doanh nghiệp. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, khái niệm “doanh nghiệp” được định nghĩa khác nhau trong các văn bản pháp luật khác nhau, và được áp dụng phân biệt theo thành phần kinh tế. Trong khi doanh nghiệp do tư nhân trong nước sở hữu lấy mục tiêu sinh lợi làm tiêu chí đặc trưng hàng đầu, doanh nghiệp trong khu vực kinh tế nước ngoài và khu vực kinh tế nhà nước chủ yếu dựa vào tiêu chí sở hữu. Thậm chí, lợi nhuận không được coi là mục tiêu chủ yếu của doanh nghiệp nhà nước.
Trong phạm vi đề tài luận văn, tác giả tập trung vào nghiên cứu các doanh nghiệp dân doanh, đặc biệt là mô hình công ty.2 Đặc điểm của doanh nghiệp Từ khái niệm doanh nghiệp được ghi nhận tại Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005, có thể thấy doanh nghiệp có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng. Theo đó, doanh nghiệp trước hết phải là tổ chức kinh tế. Tổ chức kinh tế là một tổ chức được thành lập ra bởi một người hoặc trên cơ sở liên kết, liên minh của hai hay nhiều người, tổ chức. Sự liên kết của các thương nhân được thể hiện dưới hình thức bên ngoài là một tổ chức.
Các thương nhân trên cơ sở cùng chung mục đích, sự tin tưởng, vốn, …đã liên kết với nhau theo những hình thức nhất định và tạo ra mô hình tổ chức kinh doanh – gọi chung là doanh nghiệp. Tổ chức này có thể được thể hiện dưới những mô hình nhất định và được thành lập ra với mục đích kinh doanh, tạo ra lợi nhuận cho những người thành lập ra nó. Tùy theo quy định của pháp luật của mỗi nước mà tổ chức kinh tế này có thể bao gồm nhiều loại mô hình cho các chủ thể lựa chọn để tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nó phản ánh cách thức kinh doanh của chủ thể thành lập ra doanh nghiệp.
Trong quá trình thực hiện một hoặc tất cả các công đoạn của qúa trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ, những người có cùng mục đích, chung ý tưởng kinh doanh liên kết với nhau để cùng tổ chức kinh doanh. Việc tổ chức kinh doanh dưới những mô hình doanh nghiệp nhất định giúp các bên cùng chia sẻ rủi ro, cùng huy động vốn và tổ chức kinh doanh lớn. Một trong những mô hình doanh nghiệp tổ chức hoạt động kinh doanh có hiệu quả đó chính là mô hình các công ty thương mại. Như 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vậy, doanh nghiệp về thực chất là một mô hình nhất định do các thương nhân, nhà đầu tư lập ra trên cơ sở sự liên kết, tổ chức để tìm kiếm lợi nhuận.
Mặc dù trên thực tế, pháp luật Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới vẫn thừa nhận mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên – một loại hình doanh nghiệp chỉ có một chủ sở hữu. Thứ hai, doanh nghiệp có tài sản: doanh nghiệp được thành lập ra với mục đích là kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận chia nhau. Để có thể tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp cần có tài sản. Do vậy, các thành viên phải bỏ ra một số tài sản để góp vào doanh nghiệp.
Số tài sản của các thành viên góp vào tạo thành tài sản của doanh nghiệp. Đây là một điều kiện quan trọng để thành lập doanh nghiệp. Tuy nhiên, vai trò của tài sản đối với mỗi mô hình doanh nghiệp khác nhau là khác nhau. Trong xã hội, khi nền sản xuất hàng hóa đã phát triển đến mức độ nhất định, để mở mang kinh doanh các thương nhân cần phải có nhiều vốn, tài sản.
Để đáp ứng nhu cầu về vốn, tài sản cho kinh doanh, buộc các thương nhân phải liên kết với nhau. Mặt khác, khi sản xuất hàng hóa càng phát triển thì sự cạnh tranh càng khốc liệt hơn, những doanh nghiệp có vốn ít thường ở vị trí bất lợi. Như vậy, tài sản chính là một trong những động lực để các thương nhân liên kết với nhau cùng tạo lập doanh nghiệp. Tài sản của doanh nghiệp có thể được thể hiện dưới nhiều dạng, có thể là tài sản trở thành vốn góp kinh doanh, cũng có thể là tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm quản lý, tổ chức kinh doanh,.
Tài sản này là cơ sở, nguồn lực để doanh nghiệp hiện thực hóa, tổ chức việc kinh doanh trong thực tiễn. Khi tiến hành kinh doanh, các thương nhân sẽ đưa vào một số tài sản, vốn nhất định vào trong quá trình sản xuất. Một số ngành nghề, lĩnh vực nhất đinh đòi hỏi doanh nghiệp có một lượng tài sản nhất định để có thể kinh doanh. Thứ ba, doanh nghiệp có trụ sở giao dịch ổn định.
Khoản 1 Điều 35 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: Trụ sở chính của doanh nghiệp là địa điểm liên lạc, giao dịch của doanh nghiệp; phải ở trên lãnh thổ Việt Nam, có địa chỉ được xác định gồm số nhà, tên phố (ngõ phố) hoặc tên xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số điện thoại, số fax 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và thư điện tử (nếu có). Để thực hiện được việc liên lạc, giao dịch của doanh nghiệp thì địa chỉ của trụ sở chính phải có tên trên bản đồ hành chính việt Nam, ở trên lãnh thổ Việt Nam.