Chương 1: Lý luận pháp luật về kết hôn nhìn từ góc độ lịch sử và phong tục tập quán; Chương 2: Đánh giá pháp luật về kết hôn từ góc độ lịch sử và phong tục tập quán; Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện chế định kết hôn ở Việt Nam. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ VÀ PHONG TỤC TẬP QUÁN 1. Kh ƣợc về chế định kết hôn 1.1 Khái niệm kết hôn và mục đích, bản chất của kết hôn 1.1 Khái ni m k t hôn Xã hội loài người từ khi “tách biệt” ra khỏi cuộc sống hoang dã của loài động vật thì chưa xuất hiện khái niệm về “hôn nhân”. Khi đó, quan hệ giữa người đàn ông và người đàn bà mới chỉ dừng lại ở mục đích nhằm thỏa mãn nhu cầu và bản năng thuần túy, hay còn gọi là để thỏa mãn phần “con”.
Vì thế cho nên ở thời kỳ tiền sử, sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà không có sự phân chia ngôi thứ, không có bất cứ sự ràng buộc, ngăn cách hoặc giới hạn nào với nhau và đó chính là sự liên kết tự nhiên của thế giới loài người. Trên các chặng đường phát triển tiếp theo của loài người, sự phát triển các mối quan hệ xã hội dần dần sự liên kết giữa đàn ông và đàn bà không đơn giản là sự liên kết tự nhiên như ở thời tiền sử nữa mà thay vào đó là sự liên kết mang tính xã hội, thể hiện những tiến bộ, những giá trị văn minh mà loài người đã đạt đến và mối quan hệ này được gọi là “kết hôn”. Từ điển Tiếng Việt có định nghĩa về việc kết hôn như sau: “k t hôn là vi c nam, n chính th c l y nhau thành v , chồng [18, 467] Theo truyền thống và phong tục, tập quán của người Việt Nam thì nam, nữ được coi là chính thức lấy nhau trở thành vợ chồng khi hai bên nam, nữ tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống có sự chứng kiến của hai bên gia đình, người thân, bạ bè. Kể từ thời điểm đó họ được cộng đồng dân cư thừa nhận là vợ chồng [2, 7-8].
Vì thế, việc tổ chức lễ cưới cho hai bên nam nữ, luôn là một việc hệ trọng của đời người. Nghi thức cưới phản ánh một không khí trang nghiêm, thiêng liêng, mang đầy ý nghĩa nhân văn sâu sắc đánh dấu thời điểm họ chính thức trở thành vợ chồng. Đối với từng vùng miền, từng dân tộc, từng địa phương và tôn giáo khác nhau thì lễ cưới cũng có những đặc điểm khác nhau. Những người theo đạo Thiên chúa 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thì nghi lễ kết hôn giữa hai người nam, nữ sẽ diễn ra ở Nhà thờ - nơi sinh hoạt cộng đồng của các tín đồ tại địa phương Cha xứ sẽ là người trực tiếp chủ trì lễ kết hôn đó.
Đối với những người theo đạo Phật thì lễ kết hôn được gọi với cái tên “lễ hằng thuận” sẽ diễn ra tại Chùa và sư chính tại chùa sẽ là người chủ trì nghi lễ. Sau khi diễn ra nghi lễ tại Nhà thờ, Chùa thì đôi nam, nữ chính thức là vợ chồng, chung sống với nhau cùng một gia đình. Tuy nhiên, những người tham dự lễ cưới của đôi nam, nữ tại Nhà thờ và Chùa chủ yếu là người thân hai bên gia đình của đôi nam, nữ nên để đảm bảo sự thừa nhận của cộng đồng dân cư tại nơi sinh sống về quan hệ hôn nhân của đôi nam nữ thì ngoài nghi lễ kết hôn theo nghi thức tôn giáo thì họ còn tổ chức thêm cả nghi lễ kết hôn truyền thống. Như vậy, nghi lễ kết hôn truyền thống vẫn sẽ diễn ra ở cả những người theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo và đóng vai trò là sự kiện đánh dấu chính thức để xác lập quan hệ vợ chồng giữa đôi nam, nữ.
Tìm hiểu sâu về nghi thức kết hôn truyền thống tại Việt Nam, theo “Thiên Nam dư hạ tập” - bộ tùng thư mang tính điển chế do Lê Thánh Tông giao cho các văn thần biên soạn năm 1483, quyển “Hồng Đức Hôn giá lễ nghi” có ghi cụ thể về nghi thức kết hôn với các lễ lần lượt được liệt kê như sau: - Lễ Nghị hôn (lễ dạm mặt); - Lễ định thân (lễ đính hôn hay ăn hỏi); - Lễ nạp chưng (đưa đồ sính lễ); - Lễ thân nghinh (đón dâu) [2, 8]. Như vậy, để trở thành vợ chồng và xác lập quan hệ hôn nhân với nhau, gia đình hai bên nam nữ phải tiến hành đầy đủ các bước như trên. Trong các nghi lễ thì Lễ nghị hôn là nghi lễ có ý nghĩa quyết định đến việc xem xét và tiến hành các nghi thức tiếp theo của việc cưới hỏi và nghi lễ định thân thể hiện sự cam kết của hai bên sẽ kết duyên vợ chồng được hai bên xác nhận. Từ đó, sau lễ ăn hỏi về hình thức cô dâu đã được xác định là con dâu của bên nhà trai.
Các bước trong nghi lễ cưới đề cao sự chứng kiến của người thân và cộng đồng đối với việc xác lập quan hệ vợ chồng của hai bên nam, nữ. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Từ điển Hán - Việt thì “kết” là sự kết hợp với nhau, còn “hôn” là người con trai lấy vợ [19, 212]. Theo nghĩa này, thuật ngữ “kết hôn” muốn nhấn mạnh và khẳng định việc lấy vợ của người con trai. Như vậy, xét trên phương diện ngôn ngữ học, kết hôn chính là một từ Hán việt chỉ việc người con trai lấy vợ.
Do ảnh hưởng của hàng nghìn năm Bắc thuộc, thuật ngữ này được người Việt Nam dùng khá phổ biến [2, 9]. Từ đó, “kết hôn” được sử dụng để chỉ việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng. Trong đời sống hàng ngày, người Việt Nam thường sử dụng các từ lấy vợ, lấy chồng hoặc xây dựng gia đình khi nói về việc “kết hôn” của nam hay nữ. Cách sử dụng từ như vậy là cách nói thuần Việt để chỉ việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng.
Vì thế trong bài nói chuyện tại Hội nghị thảo luận Dự thảo Luật HN&GĐ năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng từ “Luật lấy vợ, lấy chồng” thay cho “Luật HN&GĐ” [9, 241-242]. Từ những phân tích như trên thì “kết hôn” dưới góc độ xã hội được hiểu là một hình thức xác lập quan hệ vợ chồng. Dưới góc độ pháp lý, khái niệm kết hôn được xem xét như là một sự kiện pháp lý hoặc một chế định pháp lý. Với vai trò là một sự kiện pháp lý: Hôn nhân là một hiện tượng xã hội.
Do vậy việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng luôn là vấn đề của mọi thời đại. Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh rằng khi chưa xuất hiện Nhà nước thì xã hội được điều chỉnh bằng các quy ước. Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước” Ăng -ghen đã chứng minh rằng ở thời kỳ tiền sử, để duy trì diện cấm đoán quan hệ tính giao những “quy ước” hết sức tự nhiên đã được hình thành trong xã hội thị tộc. Nhờ đó việc cấm đoán quan hệ tính giao giữa cha mẹ với các con, ông bà với các cháu; giữa anh chị em với nhau được tuân thủ.
Khi Nhà nước xuất hiện, ngoài những quy ước của cuộc sống cộng đồng, các quan hệ xã hội còn được điều chỉnh bằng pháp luật. Quyền kết hôn với ý nghĩa là một quyền tự nhiên của mỗi cá nhân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Từ đó cũng hình thành khái niệm kết hôn dưới góc độ pháp lý. Dưới góc độ pháp lý việc nam, nữ lấy nhau thành vợ, chồng phụ thuộc vào việc thừa nhận của Nhà nước thông qua một nghi thức cụ thể được ghi nhận trong 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp luật.
Nghi thức kết hôn ghi nhận trong pháp luật cũng được xây dựng, chi phối bởi phong tục, tập quán cũng như truyền thống lập pháp của mỗi quốc gia [2, 10]. Hiện nay trên thế giới tồn tại các quy định về nghi thức kết hôn gồm: các quốc gia chỉ thừa nhận nghi thức dân sự; Các quốc gia chỉ thừa nhận nghi thức tôn giáo; Các quốc gia chấp nhận sự tương đương của cả hai nghi thức kết hôn; Các quốc gia thực hiện cả hai nghi thức tôn giáo và nghi thức dân sự. Tại Việt Nam do ảnh hưởng của văn hóa Pháp khi tiến hành đô hộ nước ta nên nghi thức mà Việt Nam cũng chính là nghi thức mà Pháp lựa chọn đó là nghi thức kết hôn dân sự. Do đó, tại Bộ Dân Luật Bắc Kỳ năm 1931 (BDLBK), Bộ Dân luật Trung kỳ năm 1936 (BDLTK) và Bộ Dân luật giản yếu 1983 (BDLGY) quy định việc kết hôn nam nữ phải được khai với Hộ lại.
Chính vì vậy mà việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng không chỉ đơn thuần là việc ràng buộc về mặt xã hội mà còn phải có sự ràng buộc về mặt pháp lý. Quy định này tiếp tục được ghi nhận trong các văn bản luật của Việt Nam kể từ khi cách mạng tháng Tám cho đến nay. Trong từ điển Luật học của trường Đại học Luật Hà Nội cũng đã giải thích rõ: “ t hôn là vi c nam n chính th c l y nhau làm v , chồ t e qu ịnh c a pháp lu t. K t c hiểu là s ki n pháp lý làm phát sinh quan h hôn nhân.
Vi c k t hôn ph ý tạ ơ qu N ớc có thẩm quyền mớ c công nh n là h p p p”.Với cách giải thích như trên, ở phương diện pháp lý nam nữ chỉ được coi là vợ chồng khi đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật tức là đã đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Việc nam nữ lấy nhau theo nghi thức truyền thống hay nghi thức tôn giáo đều không được xác định là đã “kết hôn”. Do đó, trong khoa học pháp lý cũng xuất hiện thuật ngữ “nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn” để phân biệt với trường hợp kết hôn. Như vậy, với ý nghĩa là một sự kiện pháp lý, kết hôn được hiểu là một hình thức xác lập quan hệ vợ chồng được Nhà nước ta thừa nhận.
Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.