Tổng quan nghiên cứu

Vườn quốc gia Cúc Phương được thành lập theo Quyết định số 72-TTg ngày 07/07/1962 của Thủ tướng Chính phủ, là vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam với tổng diện tích 22.408 ha trải rộng trên địa bàn ba tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình và Thanh Hóa. Vùng đệm của vườn bao gồm 11 xã thuộc ba huyện Lạc Sơn, Yên Thủy và Nho Quan, nơi cư trú của khoảng 80.000 nhân khẩu trong 17.500 hộ gia đình, trong đó đồng bào dân tộc Mường chiếm tới 76,6% tổng dân số vùng đệm và chiếm trên 96% dân số sinh sống tại các bản vùng lõi. Mặc dù sở hữu kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, hoạt động khai thác du lịch tại Cúc Phương trong nhiều năm chủ yếu tập trung vào tài nguyên sinh thái rừng nguyên sinh mà chưa khai thác tương xứng tiềm năng văn hóa tộc người bản địa.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Làm thế nào để chuyển hóa các giá trị văn hóa truyền thống của người Mường thành sản phẩm du lịch đặc thù, vừa tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng, vừa bảo tồn bản sắc văn hóa trước tác động của đô thị hóa. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa các giá trị di sản văn hóa Mường tại không gian Cúc Phương, khảo sát thực trạng khai thác du lịch giai đoạn 2007–2016, phân tích các rào cản nội tại và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển du lịch văn hóa bền vững.

Phạm vi nghiên cứu được xác định tại địa bàn cư trú của người Mường thuộc ba huyện Lạc Sơn, Yên Thủy (Hòa Bình) và Nho Quan (Ninh Bình). Ý nghĩa thực tiễn của công trình được chứng minh qua tiềm năng tăng trưởng kinh tế bản địa: Doanh thu từ dịch vụ du lịch cộng đồng tại bản Khanh đã tăng trưởng vượt bậc từ 18.000.000 đồng năm 2007 lên 376.000.000 đồng vào năm 2016, khẳng định du lịch văn hóa là đòn bẩy quan trọng giúp giảm nghèo và hạn chế xâm hại tài nguyên rừng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết Du lịch bền vững (Sustainable Tourism) và Lý thuyết Sinh thái nhân văn kết hợp Tiếp biến văn hóa (Acculturation Theory) để giải thích sự biến đổi và khả năng thích ứng của văn hóa bản địa trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường. Nghiên cứu sử dụng Mô hình Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng (Community-Based Ecotourism - CBET), đặt người dân bản địa vào vị trí trung tâm vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là đối tượng thụ hưởng trực tiếp lợi ích kinh tế.

Khung lý thuyết làm rõ bốn khái niệm học thuật then chốt:

  • Di sản văn hóa vật thể tộc người: Các biểu hiện vật chất kết tinh tri thức bản địa như kiến trúc nhà sàn gỗ, trang phục dệt hoa văn cạp váy, kỹ thuật ẩm thực cơm đồ, đồ đan lát mây tre và các di chỉ khảo cổ học tiền sử.
  • Di sản văn hóa phi vật thể tộc người: Hệ thống tri thức dân gian, diễn xướng dân gian Mo Mường, dàn hòa tấu cồng chiêng 12 chiếc, nghi lễ hát Xéc bùa và phong tục tập quán theo chu kỳ nông nghiệp.
  • Tài nguyên du lịch nhân văn: Tổng thể các yếu tố văn hóa lịch sử có khả năng tạo ra sức hút du lịch và chuyển hóa thành sản phẩm dịch vụ thương mại.
  • Du lịch văn hóa bản địa: Hình thức du lịch dựa trên sự trải nghiệm sâu sắc lối sống, phong tục và tri thức của cộng đồng dân tộc thiểu số tại không gian sinh sống nguyên bản.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ các công trình khảo cổ học (khai quật Động Người Xưa với niên đại 7.500 năm, Hang Con Moong có niên đại từ 10.500 đến 18.500 năm) và số liệu thống kê quản lý rừng của Trung tâm Du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường Vườn quốc gia Cúc Phương.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra xã hội học với cỡ mẫu gồm 150 phiếu khảo sát du khách (gồm khách nội địa và quốc tế) và 100 phiếu phỏng vấn hộ gia đình người Mường tại 11 xã vùng đệm. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để đảm bảo tính đại diện về lứa tuổi, giới tính và mức độ tham gia vào chuỗi cung ứng du lịch. Tác giả tiến hành 15 cuộc phỏng vấn sâu đối với các nghệ nhân lớn tuổi (từ 74 đến 75 tuổi) am hiểu phong tục cổ truyền và đại diện thanh niên địa phương. Phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp mô hình hóa và so sánh liên ngành được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác mức độ hài lòng của du khách, đo lường sự thay đổi cấu trúc kinh tế hộ gia đình từ năm 2014 đến 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Vườn quốc gia Cúc Phương lưu giữ tầng văn hóa khảo cổ và di sản vật thể vô cùng đậm đặc. Di chỉ Động Người Xưa với 3 ngôi mộ cổ niên đại 7.500 năm và Hang Con Moong với địa tầng văn hóa dày từ 3,0 m đến 3,8 m chứa 4 ngôi mộ cổ đã chứng minh sự cư trú liên tục của người tiền sử từ thời đại đồ đá cũ sang đồ đá mới. Cùng với đó, hệ thống nhà sàn truyền thống được dựng từ các loại gỗ quý như chò chỉ, dổi đắng, lim xanh là một giá trị kiến trúc tiêu biểu. Tuy nhiên, khảo sát thực tế cho thấy hơn 60% số hộ gia đình người Mường tại vùng đệm đã thay thế mái tranh bằng ngói xi măng hoặc chuyển sang xây dựng nhà gạch kiên cố, làm suy giảm tính nguyên bản của bản làng.

Thứ hai, kho tàng văn hóa phi vật thể của người Mường tại Cúc Phương sở hữu giá trị nghệ thuật độc đáo nhưng đang chịu sức ép mai một lớn. Toàn bộ 100% người dân duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, kết hợp với 28% chịu ảnh hưởng của triết lý Phật giáo dân gian. Nghệ thuật diễn xướng cồng chiêng hoàn chỉnh với bộ 12 chiếc chiêng đồng biểu trưng cho 12 tháng trong năm và hệ thống Lịch Đoi cổ truyền (chậm hơn âm lịch khoảng 15 ngày) là những tài nguyên du lịch khác biệt. Dù vậy, các hoạt động diễn xướng như hát Mo, lễ hội Xéc bùa hiện nay hầu như chỉ diễn ra vào dịp Tết Nguyên đán (từ ngày mùng 2 tháng Giêng), chưa được sân khấu hóa thành sản phẩm phục vụ du khách thường xuyên.

Thứ ba, hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua du lịch cộng đồng đạt kết quả rõ rệt nhưng chưa đồng đều. Doanh thu du lịch bản địa tại điểm khảo sát bản Khanh đã tăng trưởng hơn 20 lần trong giai đoạn 2007–2016 (đạt 376.000.000 đồng vào năm 2016). Khảo sát du khách cho thấy 75% khách du lịch đặc biệt ấn tượng với văn hóa ẩm thực truyền thống (cơm đồ, lợn thui, cá muối ủ chua, rượu cần) và 68% khách bày tỏ mong muốn được tìm hiểu sâu hơn về nếp sống của người Mường khi quay trở lại Cúc Phương. Mặc dù vậy, tỷ lệ du khách lưu trú qua đêm tại các bản làng chỉ chiếm dưới 20% tổng lượng khách đến vườn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến việc khai thác chưa tương xứng với tiềm năng là do sự phân bố dân cư không đồng đều (mật độ dân số tại xã Cúc Phương chỉ đạt 23 người/km2, trong khi xã Yên Quang lên tới 594 người/km2), gây khó khăn cho việc quy hoạch các tuyến điểm liên hoàn. Bên cạnh đó, tính liên kết vùng giữa ba tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình và Thanh Hóa còn rời rạc, các doanh nghiệp lữ hành chủ yếu khai thác tuyến tham quan thiên nhiên lõi vườn (từ trung tâm Bống) mà bỏ qua các điểm văn hóa vùng đệm.

Kết quả nghiên cứu này tương đồng với các công trình của Bùi Minh Vũ (2004) và Vũ Văn Dũng (2016), cùng chỉ ra rằng du lịch bản Mường chỉ có thể phát triển bền vững khi giải quyết hài hòa bài toán chia sẻ lợi ích kinh tế cho cộng đồng. Về mặt trình bày trực quan, các chỉ số biến đổi cấu trúc nhà ở và mức độ chi tiêu của du khách được hệ thống hóa qua biểu đồ cột so sánh tăng trưởng doanh thu 2007–2016 và bảng ma trận SWOT phân tích năng lực cạnh tranh du lịch tại 11 xã vùng đệm.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Phục dựng và bảo tồn không gian kiến trúc nhà sàn truyền thống kết hợp làng nghề dệt thổ cẩm: Ban Quản lý Vườn quốc gia Cúc Phương phối hợp cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hai tỉnh Ninh Bình và Hòa Bình tiến hành khoanh vùng, hỗ trợ tài chính cho 100% các hộ gia đình giữ nguyên kiến trúc nhà sàn gỗ cổ tại các bản du lịch trọng điểm; khôi phục ít nhất 50 khung dệt thổ cẩm thủ công chuyên sản xuất cạp váy hoa văn Đông Sơn trong lộ trình 2018–2022.
  • Chuẩn hóa và tổ chức định kỳ các chương trình diễn xướng văn hóa phi vật thể: Trung tâm Du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường liên kết với các nghệ nhân địa phương xây dựng không gian biểu diễn cồng chiêng, hát Xéc bùa và giao lưu rượu cần. Đặt mục tiêu tổ chức tối thiểu 2 suất diễn định kỳ mỗi tuần vào các tối cuối tuần, phấn đấu nâng tỷ lệ khách quốc tế lưu trú tại homestay tăng 25% trong vòng 18 tháng.
  • Xây dựng chuỗi cung ứng ẩm thực đặc sản và sản phẩm lưu niệm mây tre đan: Thành lập Hợp tác xã Du lịch cộng đồng bản Mường để chuẩn hóa quy trình an toàn thực phẩm đối với các món ăn bản địa (cơm lam, thịt ủ chua, rau rừng sắng, gà đồi), nâng tỷ trọng doanh thu từ bán sản phẩm đan lát thủ công và nông sản địa phương lên mức 30% tổng cơ cấu thu nhập du lịch của xã trong vòng 2 năm.
  • Nâng cao năng lực quản trị du lịch và đào tạo kỹ năng ngoại ngữ cho người dân: Ủy ban nhân dân các huyện Nho Quan, Lạc Sơn và Yên Thủy chủ trì tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ đón tiếp, kỹ năng thuyết minh song ngữ cho 100% hộ dân kinh doanh dịch vụ homestay; đặt chỉ tiêu đào tạo 40% lực lượng lao động trẻ tại các bản có khả năng giao tiếp tiếng Anh cơ bản phục vụ khách quốc tế trước năm 2023.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên: Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng để xây dựng đề án quy hoạch phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn di sản nhân văn cho 22.408 ha diện tích rừng đặc dụng.
  • Doanh nghiệp lữ hành và các chuyên viên phát triển sản phẩm du lịch: Cung cấp tài liệu chi tiết về hệ thống di chỉ khảo cổ và phong tục Mường để thiết kế các tour trải nghiệm chuyên đề, tuyến trekking xuyên rừng từ trung tâm Bống sang bản Khanh.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Việt Nam học, Nhân học, Du lịch học: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp khảo sát điền dã dân tộc học, khung lý thuyết phân tích tiếp biến văn hóa tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Cộng đồng cư dân bản địa và các hợp tác xã du lịch cộng đồng: Cung cấp cẩm nang thực tiễn về cách thức thương mại hóa các giá trị văn hóa truyền thống thành chuỗi dịch vụ gia tăng mà không làm mất đi bản sắc tộc người.

Câu hỏi thường gặp

  • Tiềm năng văn hóa nổi bật nhất của người Mường tại Cúc Phương là gì? Văn hóa Mường Cúc Phương nổi bật với sự hòa quyện giữa di sản cư trú cổ xưa tại Động Người Xưa (7.500 năm), kiến trúc nhà sàn gỗ truyền thống, nghệ thuật dệt hoa văn cạp váy mang dấu ấn Đông Sơn và không gian diễn xướng cồng chiêng 12 chiếc gắn liền với tập quán sinh hoạt nương rẫy độc đáo.

  • Khai thác du lịch văn hóa mang lại lợi ích kinh tế cụ thể nào cho người dân vùng đệm? Hoạt động du lịch giúp người dân chuyển đổi từ khai thác tự nhiên sang cung cấp dịch vụ lưu trú và ẩm thực. Minh chứng thực tế tại bản Khanh cho thấy tổng nguồn thu từ du lịch cộng đồng đã tăng mạnh từ 18 triệu đồng năm 2007 lên 376 triệu đồng năm 2016, nâng cao thu nhập bền vững cho hàng trăm hộ dân.

  • Vì sao kiến trúc nhà sàn truyền thống của người Mường tại đây đang bị thay đổi? Do sự tác động của giao lưu kinh tế và nhu cầu sử dụng vật liệu có độ bền cao, hơn 60% hộ dân đã chuyển sang lợp mái ngói xi măng hoặc dựng cột bê tông thay thế cho gỗ rừng tự nhiên và mái tranh, đòi hỏi phải có chính sách hỗ trợ kinh phí bảo tồn khẩn cấp.

  • Hệ thống ẩm thực Mường tại Cúc Phương có điểm gì khác biệt thu hút du khách? Ẩm thực Mường mang tính độc bản nhờ kỹ thuật "đồ" (chín bằng hơi trong chõ gỗ), kỹ thuật ủ chua (thịt lợn muối, lá sắn ủ chua) và phương thức nấu nướng bằng ống nứa (cơm lam), sử dụng nguồn nguyên liệu tự nhiên từ 724 loài cây thuốc và thực vật rừng đặc hữu.

  • Giá trị của di chỉ khảo cổ học Động Người Xưa và Hang Con Moong đối với du lịch là gì? Hai di chỉ khảo cổ với địa tầng từ 3,0 m đến 3,8 m và các bộ xương hóa thạch 7.500 năm là bằng chứng khoa học khẳng định Cúc Phương là cái nôi cư trú của người tiền sử, tạo nên giá trị giáo dục và sức hấp dẫn đặc biệt cho các tour du lịch nghiên cứu học thuật quốc tế.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện kho tàng di sản văn hóa Mường tại 11 xã vùng đệm Vườn quốc gia Cúc Phương, khẳng định đây là nguồn tài nguyên nhân văn quý giá cần được tích hợp vào sản phẩm du lịch sinh thái.
  • Đánh giá thực trạng cho thấy doanh thu du lịch cộng đồng tăng trưởng hơn 20 lần trong giai đoạn 2007–2016, chứng minh tính đúng đắn của mô hình sinh kế dựa vào di sản.
  • Nhận diện rõ nguy cơ mai một của hơn 60% kiến trúc nhà sàn cổ và sự suy giảm các hình thức diễn xướng dân gian trước áp lực đô thị hóa.
  • Xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp liên ngành từ quy hoạch không gian, sân khấu hóa diễn xướng, chuẩn hóa ẩm thực đến đào tạo nhân lực bản địa.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho ngành Việt Nam học và mở ra hướng tiếp cận kinh tế di sản bền vững cho các vườn quốc gia tại Việt Nam.

Lộ trình tiếp theo cần tập trung nguồn lực thực hiện liên kết phát triển du lịch giữa ba tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa trong giai đoạn 2025–2030, ưu tiên số hóa các di sản văn hóa phi vật thể Mo Mường và cồng chiêng. Các nhà quản lý, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng địa phương cần bắt tay hành động ngay hôm nay để biến tiềm năng văn hóa Mường Cúc Phương thành thương hiệu du lịch di sản tầm cỡ quốc gia và quốc tế.