Chương 1: Cơ sở lý luận chung về du lịch 1. Một số khái niệm chung 1. Khái niệm về du lịch Thuật ngữ du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp và La tinh hóa: tornus (đi một vòng). Sau đó xuất hiện trong các ngôn ngữ khác: tourisme (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh).
Trong tiếng Việt, khái niệm du lịch xuất phát từ tiếng Hán: du có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải. Tuy nhiên người Trung Quốc gọi du lịch là đi chơi để nâng cao nhận thức. Trong Hội nghị của Liên hợp quốc về du lịch tổ chức tại Roma thủ đô Italia (21/8 – 5/91963), du lịch được định nghĩa như sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.
Còn trong Luật du lịch Việt Nam (được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua vào năm 1995), thì du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Khái niệm về các loại hình du lịch Loại hình du lịch là: Sở thích, thị hiếu và nhu cầu của du khách là hết sức đa dạng, phong phú, chính vì vậy cần phải tiến hành phân loại các loại hình du lịch, chuyên môn hóa các sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn cho sự lựa chọn và đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu của du khách. Các loại hình du lịch như: Nếu phân loại theo tổng quát có du lịch sinh thái và du lịch văn hóa - Du lịch sinh thái gồm: 8 + Du lịch thiên nhiên + Du lịch dựa vào thiên nhiên + Du lịch môi trường + Du lịch đặc thù + Du lịch xanh + Du lịch thám hiểm + Du lịch bản xứ + Du lịch có trách nhiệm + Du lịch nhạy cảm + Du lịch nhà tranh + Du lịch bền vững - Du lịch văn hóa Phân loại căn cứ vào phạm vi lãnh thổ: - Du lịch quốc tế - Du lịch nội điạ Phân loại căn cứ vào nhu cầu đi du lịch của du khách - Du lịch chữa bệnh - Du lịch nghỉ ngơi giải trí - Du lịch thể thao - Du lịch công vụ - Du lịch tôn giáo - Du lịch khám phá - Du lịch thăm hỏi - Du lịch quá cảnh Phân loại căn cứ vào phương tiện giao thông - Du lịch bằng xe đạp - Du lịch tàu hỏa - Du lịch tàu biển - Du lịch ô tô - Du lịch hàng không Phân loại căn cứ theo phương tiện lưu trú - Du lịch ở khách sạn 9 - Du lịch ở Motel - Du lịch nhà trọ - Du lịch camping Phân loại căn cứ vào thời gian đi du lịch - Du lịch dài ngày từ 2 tuần đến 5 tuần - Du lịch ngắn ngày Phân loại căn cứ vào đặc điểm địa lý của điểm du lịch - Du lịch miền biển - Du lịch núi - Du lịch đô thị - Du lịch đồng quê Phân loại căn cứ vào hình thức tổ chức du lịch - Du lịch theo đoàn - Du lịch cá nhân Phân loại căn cứ vào thành phần của du khách - Du khách thượng lưu - Du khách bình dân Phân loại căn cứ vào phương thức ký kết hợp đồng đi du lịch - Du lịch trọn gói - Mua từng phần dịch vụ của tour du lịch 1. Vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 1.1 Vai trò du lịch đối với sự phát triển kinh tế chung Hoạt động du lịch có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào làm tăng giá trị Tổng sản phẩm trong nước (GDP) và ngân sách của một quốc gia hay địa phương.
Đồng thời góp phần vào việc giải quyết việc làm, nâng cao mức sống của dân cư bản địa. Sự phát triển du lịch còn tạo điều kiện tăng cường thu hút vốn đầu tư (trong và ngoài nước), tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng thị trường (qua việc quảng bá sản phẩm ra thị trường trong và ngoài nước thông qua khách du lịch). 10 Đồng thời, hoạt động du lịch góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một vùng lãnh thổ, ngành, thành phần kinh tế, góp phàn cân bằng cán cân thanh toán quốc tế,… 1.2 Vai trò của du lịch đối với xã hội Đối với xã hội, hoạt động du lịch có những tác động tích cực như nâng cao sức khỏe và sự hiểu biết của dân chúng, tăng thêm sự đoàn kết và thân ái giữa các cộng đồng dân cư, giáo dục tinh thần yêu nước, giáo dục ý thức bảo tồn các giá trị văn hóa bản địa,… Tuy nhiên, nó cũng có những tác động tiêu cực như tạo ra các xung đột xã hội (do sự khác biệt về văn hóa, tôn giáo, ý thức hệ chính trị giữa du khách và dân cư bản địa), các giá trị văn hóa bản địa bị thương mại hóa, ảnh hưởng văn hóa lai căng,… 1. Những yếu tố tác động đến sự phát triển của du lịch 1.
Nguồn tài nguyên Tài nguyên du lịch có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển du lịch. Tài nguyên nghĩa là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần được khai thác và ohục vụ cho mục đích phát triển nào đó của con người. Theo Buchvakop – Nhà địa lý học người Bungari “Tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần và những kết hợp khác nhau của cảnh quan thiên nhiên cùng cảnh quan nhân văn có thể được sử dụng cho dịch vụ du lịch và thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi hay tham quan của khách du lịch”. Xét dưới góc độ cơ cấu tài nguyên du lịch, có thể phân thành hai bộ phận hợp thành: Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.
Di sản thế giới: Đây được coi là tiềm năng lớn nhất và quan trong nhất, để phát triển du lịch. Di sản văn hoá được hiểu là toàn bộ các tạo phẩm chứa đựng những giá trị tích cục mà loài người đã đạt được trong xã hội thực tiễn do thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau. Di sản văn hoá được chia ra làm hai loại: Di sản văn hoá vật thể: Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học. Toàn bộ các sản phẩm vật chất hiện hữu dược hình thành do bàng tay sáng tạo của con người, bao gồm: Hệ thống di tích lịch sử văn hoá, thể thống danh lam thắng cảnh, thể thống di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
11 Di sản văn hoá phi vật thể: là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu dữ bằng trí nhớ, chữ viết truyền miệng, truyền nghề, trình diễn, lễ hội truyền thống, ý thức về y dược học, trang phục truyền thống. Trên thế giới, khá nhiều quốc gia có số di sản tương đối lớn được thế giới công nhận như Pháp (18 di sản), Ấn Độ (18), Trung Quốc (14), Tây Ban Nha (16), Anh (14), Canada (10), Nhật Bản (5).v… Tính đến nay, Việt Nam có 6 di sản thế giới (trong đó di sản văn hoá chiếm 4, đó là: Kinh Thành Huế, Nhã nhạc cung đình Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn). Nếu nhìn từ gốc độ kinh tế (nói chung) và du lịch (nói riêng) thì di sản văn hóa là một tiềm năng mang lại nguồn thu lớn cho đất nước. Chính sách đầu tư phát triển của nhà nước Chính sách phát triển du lịch là chìa khóa dẫn đến thành công trong việc phát triển du lịch.
Nó có thể kìm hãm nếu đường lối sai với thực tế. Chính sách phát triển du lịch được ở hai mặt: Thứ nhất là chính sách chung của Tổ chức du lịch thế giới đối với các nước thành viên; thứ hai là chính sách của cơ quan quyền lực tại địa phương, quốc gia đó. Mặt thứ hai có ý nghĩa quan trọng hơn cả vì nó huy động được sức người, căn cứ vào khả năng thực tế tại mỗi vùng, quốc gia đó để đưa ra chính sách phù hợp. Những biện pháp để thúc đẩy du lịch Việt Nam được Đảng và Nhà nước đề ra ở Đại Hội VIII: “Triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể du lịch Việt Nam tương xứng với tiềm năng du lịch của đất nước theo hướng du lịch văn hoá, du lịch môi trường sinh thái.
Xây dựng các chương trình và điểm hấp dẫn về văn hoá, di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh. Huy động nguồn nhân lực của nhân dân tham gia kinh doanh du lịch, ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng ở những khu du lịch, tập trung ở những trung tâm lớn. Nâng cao trình độ văn hoá và chất lượng dịch vụ với các loại khách khác nhau .Đẩy mạnh việc huy động vốn trong nước đầu tư vào khách sạn, chuyển các nhà nghỉ, nhà khách từ cơ chế bao cấp sang kinh doanh khách sạn và du lịch.” Nhận thức được ảnh hưởng tiêu cực của thủ tục visa trên lượng du khách, chính phủ Việt Nam đã sớm có sáng kiến về visa như từ tháng 1/2004 bãi bỏ thị nhập cảnh cho du khách Nhật đến Việt Nam từ 15 ngày trở xuống.Tháng 12 7/2004, sáng kiến này cũng được áp dụng với du khách Hàn Quốc. Các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Inđonesa, Philippines, Singapore và Lào cũng có các thỏa hiệp visa với Viêt Nam.
Đa dạng hoá các sản phẩm du lịch Việt Nam là chính sách dài hạn của Tổng cuc Du lịch Viêt Nam. Từ năm 1995, chính phủ đã chuẩn bị kế hoạch lớn thời kì 1995 – 2010 nhằm phát triển du lịch, biến du lịch thành cánh tay đắc lực mang lại ngoại tệ và công ăn việc làm cho người dân đồng thời giới thiệu phong cảnh, văn hoá và con người Việt Nam với du khách nước ngoài. Năm 2000 kế hoạch được bổ sung và chỉnh sửa. Theo kế hoạch, kỹ nghệ du lịch Việt Nam sẽ thu hút đầu tư phát triển các cơ sở hạ tầng và phục vụ du khách đi kèm với việc phát triển các sản phẩm du lịch độc đáo mang bản sắc Việt Nam.
Thực hiện đường lối của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã có những văn bản chỉ đạo hoạt động du lịch khoa học, thực tiễn và có hiệu quả từ Đại hội VIII đến nay. Pháp lệnh du lịch Việt Nam ban hành ngày 20/2/1999 đã đi vào cuộc sống và tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch Việt Nam ngày một đi lên.