phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2. Một số biện pháp dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1) theo hướng tích hợp giáo dục kĩ năng sống Chƣơng 3. Thực nghiệm sư phạm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Khái quát về kĩ năng sống 1. Khái niệm kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống 1. Kĩ năng sống Khi nói về KNS thì có nhiều quan niệm khác nhau: - Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), KNS là những kĩ năng thiết thực mà con người cần có để có cuộc sống an toàn và khỏe mạnh. Hiểu rộng hơn, KNS là khả năng để có hành vi thích ứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày [6, tr.
- Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng [6, tr. - Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), KNS gắn liền với 4 trụ cột của giáo dục: học để biết (learning to know), học để khẳng định bản thân (learning to be), học để chung sống (learning to live together) và học để làm việc (learning to do) [6, tr. Tiếp cận theo 4 trụ cột trên thì KNS có thể hiểu là: kĩ năng học tập, kĩ năng làm chủ bản thân, kĩ năng thích ứng và hòa nhập với cuộc sống, kĩ năng làm việc.
Từ những quan niệm trên đây, có thể thấy KNS bao gồm nhiều kĩ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người. KNS là năng lực tâm lí – xã hội của mỗi cá nhân, năng lực này có được là do quá trình học tập và lĩnh hội, được thể hiện thông qua truyền thống, văn hóa, gia đình, cộng đồng và xã hội. Với cách phân tích nêu trên, tác giả luận văn sử dụng khái niệm KNS trong nghiên cứu với nội hàm: “KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống ” [6, tr. Giáo dục kĩ năng sống KNS được hình thành thông qua quá trình xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị và kĩ năng thích hợp.
Do vậy, KNS phải được hình thành cho học sinh thông qua con đường đặc trưng – hoạt động giáo dục. Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Giáo dục kĩ năng sống là một quá trình với những hoạt động giáo dục cụ thể nhằm tổ chức, điều khiển để học sinh biết cách chuyển tải những gì mình biết (nhận thức), những gì mình cảm nhận (thái độ), những gì mình quan tâm (giá trị) thành những khả năng thực thụ giúp học sinh biết phải làm gì và làm như thế nào (hành vi) trong những tình huống khác nhau của cuộc sống” [20, tr. Phân loại kĩ năng sống Có nhiều cách phân loại KNS: - Theo UNESCO, WHO và UNICEF, có thể xem KNS gồm các kĩ năng cốt lõi sau : + Kĩ năng giải quyết vấn đề (problem solving); + Kĩ năng suy nghĩ/ tư duy phê phán (critical thinking); + Kĩ năng giao tiếp hiệu quả (effective communication skills); + Kĩ năng ra quyết định (decision – making); + Kĩ năng tư duy sáng tạo (creative thinking); + Kĩ năng giao tiếp ứng xử cá nhân (interpersonal relationship skills); + Kĩ năng tự nhận thức/ tự trọng và tự tin của bản thân, xác định giá trị (selfawareness building skills, incl. Self-awareness, self-esteem and self- confidence, angd values analysis); + Kĩ năng thể hiện sự cảm thông (empathy) [6, tr.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Trong giáo dục ở nước ta những năm vừa qua, KNS thường được phân loại theo các mối quan hệ, bao gồm các nhóm sau: nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình; nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với người khác; nhóm các kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả [6, tr. Trên đây chỉ là một số cách phân loại KNS. Tuy nhiên, các cách phân loại này chỉ mang tính tương đối. Trong thực tế cuộc sống, các KNS có sự đan xen, tương hỗ lẫn nhau.
Thống nhất với quan điểm trên, đồng thời xem xét sự tương thích với tính chất, đặc điểm của dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1), chúng tôi giới hạn các KNS được nghiên cứu trong luận văn để tích hợp chủ yếu là các kĩ năng xác định giá trị (lòng yêu nước, sự đồng cảm, tình yêu thương), kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng tự nhận thức,… 1. Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Theo UNESCO, ba thành tố hợp thành năng lực của con người là: kiến thức, kĩ năng và thái độ. Hai yếu tố sau thuộc về KNS, có vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách con người. Lứa tuổi học sinh là giai đoạn hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ song còn thiếu kinh nghiệm sống nên dễ bị lôi kéo hoặc dễ học theo, bắt chước một số thói hư, tật xấu du nhập từ thế giới bên ngoài, từ mạng internet.
Sống trong xã hội phát triển, với xu thế toàn cầu hóa, con người cần phải sớm được trang bị những kĩ năng cần thiết để hòa nhập với cộng đồng. Rèn kĩ năng sống lại càng cần thiết đối với thế hệ trẻ vì các em là những chủ nhân tương lai của đất nước. Giáo dục kĩ năng sống góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh. Kĩ năng sống tốt sẽ giúp học sinh vững vàng đối diện với mọi hoàn cảnh, là chìa khóa để các em mở ra cánh cửa thành công.
Vì vậy, việc giáo dục KNS cho HS có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vấn đề giảng dạy theo hƣớng tích hợp 1. Khái niệm “tích hợp” Tích hợp ban đầu có các tên gọi là: liên hệ (permeation), kết hợp (combination), phối hợp (coordination), tích hợp (intergration).
Về khái niệm tích hợp, có nhiều cách định nghĩa, quan niệm khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng. Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” [33]. Theo Từ điển Giáo dục học cho rằng: “Tích hợp là những hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” [11, tr.
Như vậy trong dạy học, tích hợp là sự liên kết các đối tượng trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo sự thống nhất, hài hòa. Quan điểm dạy học tích hợp Dạy học tích hợp đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại hiện đang được quan tâm nghiên cứu và được áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Hơn nữa, đây cũng là một trong những quan điểm chỉ đạo trong việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông nước ta sau năm 2015. Các hình thức dạy học tích hợp bao gồm: tích hợp trong nội bộ môn học, liên môn, xuyên môn.
Tích hợp trong nội bộ môn học là tổng hợp trong một đơn vị học, thậm chí trong 1 tiết học hay trong một bài tập gồm nhiều mảng kiến thức, kĩ năng liên quan đến nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục. Có thể tích hợp theo chiều ngang hoặc theo chiều dọc. Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp các mảng kiến thức, kĩ năng trong môn học theo nguyên tắc đồng quy: tích hợp các kiến thức, kĩ năng thuộc mạch, phân môn này với mạch/ phân môn khác. Tích hợp theo chiều dọc là tích hợp một đơn vị kiến thức, kĩ năng mới với 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những kiến thức, kĩ năng trước đó theo nguyên tắc đồng tâm.
Cụ thể là: kiến thức của lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức, kĩ năng của lớp dưới, cấp học dưới [32]. Theo cách tiếp cận tích hợp liên môn, giáo viên tổ chức chương trình học tập xoay quanh các nội dung sau: các chủ đề, các khái niệm và kĩ năng liên ngành, liên môn. Hoặc lồng ghép các nội dung giáo dục cần thiết nhưng không thành một môn học (như các nội dung về môi trường, năng lượng, biến đổi khí hậu, kĩ năng sống, dân số, sức khỏe sinh sản.), vào nội dung của mỗi môn học tùy theo đặc trưng của từng môn [31]. Tích hợp xuyên môn là tích hợp bằng cách thiết kế các môn học tích hợp nhiều lĩnh vực khoa học, ví dụ: Vật lí, Hóa học, Sinh học thành môn Khoa học tự nhiên và các kiến thức về khoa học xã hội như Lịch sử, Địa lí, Đạo đức, Giáo dục công dân thành môn Tìm hiểu xã hội hoặc Khoa học xã hội [31].
Với nhu cầu của xã hội hiện đại đòi hỏi nhà trường phải hướng tới hai quan điểm liên môn và xuyên môn trong dạy học. Trong đó, quan điểm liên môn có sự phối hợp đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết mọi tình huống, còn quan điểm xuyên môn lại tìm cách phát triển ở học sinh những kĩ năng có thể áp dụng ở mọi nơi. Theo Trần Trung Ninh: “Tích hợp chương trình giảng dạy nhằm tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa các môn học khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, hình thành hệ thống kiến thức thống nhất, từ đó bồi dưỡng năng lực khoa học và kĩ năng sống cho học sinh, tạo hứng thú và động lực cho việc học” [30]. Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu Phạm Văn Lập cũng quan niệm rằng “dạy học tích hợp có nghĩa là những kiến thức, kĩ năng học được ở môn học này, phần này của môn học được sử dụng như những công cụ để nghiên cứu học tập trong môn học khác, trong nhiều phần khác của cùng môn học” [17].
Trong bài phỏng vấn với báo Giáo dục và Thời đại, tác giả Đinh Quang Báo, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐHSP Hà Nội, Ủy viên Hội đồng Quốc gia 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.