Chương 1: Cơ sở lý luận về huy động các lực lượng xã hội trong giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS - Chương 2: Thực trạng huy động các lực lượng xã hội trong giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS vùng khó khăn huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. - Chương 3: Biện pháp huy động các lực lượng xã hội trong giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS vùng khó khăn huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh long. 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG CÁC LỰC LƢỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THCS 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1 Trên thế giới Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống như: Skills for health (WHO, 2001); Life Skills in Non-Formal Education: A Review (UNESCO, 2001).
Trong diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người họp tại Senegan (2000). Chương trình hành động của Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó mục tiêu thứ 3 nói “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kỹ năng sống” còn mục tiêu thứ 6 yêu cầu “Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá kỹ năng sống của người học”. Với sự tài trợ của các tổ chức quốc tế như: UNICEF, UNESCO, WHO chương trình giáo dục kỹ năng sống đã được phát triển rộng khắp trên phạm vi toàn cầu. Các tổ chức này đã mở những cuộc hội thảo, cung cấp vật liệu, đồng thời phối hợp với nhau để đẩy mạnh hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong thanh thiếu niên.
Chương trình này đã được thực hiện và phát triển mạnh trong khu vực Mỹ Latinh và Caribe, khu vực Nam Phi và Botswana, khu vực Châu Á. Tại khu vực Châu Á, được sự tài trợ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là UNICEF, UNESCO, UNFPA, các chương trình giáo dục kỹ năng sống đã được triển khai rộng khắp ở cả Nam Á (Bangladesh, Bhutan, Ên §é, Nepal, Sri Lanka), Đông Á (Trung Quốc), Trung Á (Mông Cổ), Đông Nam Á (Campuchia, Indonesia, Lào, Myanmar, Philippin, Thái Lan, Đông Timor và Việt Nam). 6 Tại khu vực Đông Nam Á, các chương trình giáo dục dựa trên kỹ năng sống xuất hiện ở các quốc gia chủ yếu vào 5 năm cuối của thế kỷ XX (Thái Lan- 1996; Indonesia- 1997; Philippin- 2001; Lào- 1998; Mianmar- 1998; Campuchia- 2001). Dựa trên các cách tiếp cận khác nhau qua từng vấn đề cụ thể, các quốc gia đã từng bước triển khai để đưa giáo dục kỹ năng sống vào trong và ngoài nhà trường.
Kỹ năng sống không phải tự nhiên có được mà phải được hình thành trong quá trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện trong suốt cả đời. Quá trình hình thành kỹ năng sống diễn ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục. Giáo dục kỹ năng sống cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc (gia đình, nhà trường, xã hội). Các nước trên thế giới đều có kinh nghiệm trong việc vận động sự tham gia của xã hội, của mọi tầng lớp nhân dân vào việc giáo dục nói chung và giáo dục kỹ năng sống nói riêng.
Giáo dục xã hội chủ nghĩa trước đây ở Liên Xô cũ và các nước Đông Âu đã từng coi trọng sự tham gia của xã hội vào việc xây dựng và phát triển giáo dục, bao gồm việc huy động mọi người đi học và tham gia đóng góp mọi nguồn lực cho giáo dục, thực hiện sự kết hợp giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội. Xã hội tham gia vào giáo dục là vấn đề mà Trung Quốc đặc biệt quan tâm và những năm gần đây mức độ và hiệu quả của sự tham gia này ngày càng cao, tạo nên những biến đổi về chất lượng trong giáo dục của họ.đã từng xác định “Kế hoạch lớn trăm năm , giáo dục là gốc”. Từ đó, tăng cường đầu tư cho giáo dục theo tinh thần “ Lấy ngân sách nhà nước là chính, là rất quan trọng, đồng thời phải lôi cuốn toàn xã hội tham gia phát triển giáo, đoàn thể xã hội và cá nhân, theo nguyên tắc tự nguyện, lượng theo sức mình để quyên góp, chung vốn làm giáo dục không thu thuế”.2 Ở Việt Nam Năm 1996, thuật ngữ “kỹ năng sống” bắt đầu được biết đến ở Vịêt Nam qua chương trình của UNICEF “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do các chuyên gia Australia tập huấn. Năm 2003, hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNESCO tài trợ được tổ chức tại Hà Nội.
Tháng 9 năm 2003 Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng UNICEF xây dựng và thực hiện chương trình thực nghiệm “ Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống cho học sinh THCS”. Năm 2005 dự án VIE 01/10 do UNFNA tài trợ: “Giáo dục dân số và sức khỏe vị thành niên thông qua hoạt động ngoại khóa trong nhà trường” Năm 2008 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chỉ thị 40/CT- BGD&ĐT về việc phát động phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Việc rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh được xác định là một trong những nội dung cơ bản của phong trào. Tuy nhiên việc rèn luyện kỹ năng sống cho các em không thể đạt hiệu quả cao được nếu chỉ thực hiện trong một môi trường giáo dục nhà trường. Bởi vì gia đình là tổ ấm thân thương của mỗi con người, nơi con người được sinh ra, nuôi dưỡng và trường thành.
Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên, là trường học đầu tiên của con người và con người cũng được rèn những năng đầu tiên từ môi trường này như nói, nghe, giao tiếp, …từ đó dần hình thành tính cách của trẻ trước khi bước vào môi trường giáo dục nhà trường. Khi lớn lên các em được tiếp xúc với xã hội thì tại môi trường này các em lại được rèn luyện thêm các kỹ năng khác ngoài các kỹ năng có được từ gia đình và nhà trường. Vì vậy việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh nói chung và cho học sinh THCS nói riêng phải được thực hiện trong sự phối kết hợp cả 3 môi trường giáo dục này. 8 Trong đó môi trường giáo dục nhà trường là chủ thể quan trọng, đóng vai trò nồng cốt.
Tuy nhiên ở nước ta chỉ có các nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS thông qua các hoạt động tại nhà trường mà chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS nói chung và học sinh THCS vùng khó khăn nói riệng thông qua việc huy động các lực lượng xã hội cùng tham gia. Đặc biệt là chưa có nghiên cứu nào về việc huy động các lực lượng xã hội trong giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS vùng khó khăn huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Một số khái niệm cơ bản 1. Kỹ năng sống Kỹ năng sống là khả năng điều chỉnh và lựa chọn hành vi đúng đắn, có khả năng điều chỉnh nhu cầu của bản thân một cách hợp lý và ứng phó trước những thách thức trong cuộc sống Tổ chức Y tế thế giới (WHO): - Là các khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực; - Giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày.
UNICEP - Là tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. - Tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng. Có thể quan niệm kĩ năng sống - Là năng lực ứng xử tích cực của mỗi người đối với tự nhiên, xã hội và chính mình; - Là khả năng tâm lí xã hội của mỗi cá nhân trong hành vi tích cực để xử lí hiệu quả những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống. Cũng có quan niệm coi kĩ năng sống: là khả năng thực hiện một hành động hay hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành động phối hợp với mục đích và điều kiện thực tế 1.
Giáo dục kỹ năng sống Giáo dục kỹ năng sống là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp học sinh có những kiến thức về cuộc sống, có những thao tác, hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ xã hội như quan hệ của cá nhân với xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người và của cá nhân với chính mình, giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn đồng thời thích ứng tốt nhất với môi trường sống. Các lực lƣợng xã hội 1. Gia đình Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành, duy trì và củng cố trên cơ sở hôn nhân và huyết thống hoặc nuôi dưỡng, giáo dục. Gia đình với tư cách là một tế bào của xã hội cần phải thực hiện chức năng giáo, xã hội hóa các thành viên trong gia đình mình, xây dựng thiết chế, những giá trị đạo đức và truyền thống của từng gia đình.
Gia đình là nơi đầu tiên diễn ra quá trình giáo dục và có ảnh hưởng lâu dài tới nhân cách trong cuộc sống con người. Cha mẹ là người sinh ra và nuôi dưỡng các em học sinh; chịu trách nhiệm trong gia đình và trước xã hội (pháp luật) đối với việc chăm lo việc học tập và giáo dục các con mình khi chúng còn độ tuổi vị thành niên để chúng phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, thành công dân có ích cho xã hội. Trong gia đình mối quan hệ cha mẹ - con cái là quan hệ huyết thống cật ruột, là cha mẹ thì phải hiền từ biết thương yêu và nuôi dạy con cái, biết làm gương cho con cái học tập. Ngược lại, phận làm con phải biết ghi nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, biết hiếu thuận với cha mẹ.
Cần tạo điều kiện để con cái biết ơn, thương yêu, gần gũi cả cha và mẹ. Nhà trường Nhà trường là nơi diễn ra toàn bộ quá trình học tập sinh hoạt của học sinh trong khoảng thời gian đi học. Ở nhà trường học sinh các thế hệ tiếp cận với một môi trường kinh nghiệm phong phú, đa dạng góp phần quyết định sự phát triển của họ. Đây là nơi giáo dục văn hóa và hình thành tính cách, năng lực tự quyết định theo tinh thần nhân văn, trên cơ sở của một kế hoạch dạy học.
Xã hội Việc giáo dục trẻ em không chỉ được giáo dục ở nhà trường và gia đình.