phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, mục lục, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung cơ bản của luận văn đƣợc thể hiện qua 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tích hợp giáo dục giới tính trong dạy học môn Sinh học và Giáo dục công dân cho học sinh THCS Chƣơng 2: Thực trạng tích hợp giáo dục giới tính trong dạy học môn Sinh học và Giáo dục công dân ở trƣờng trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên Chƣơng 3: Biện pháp tích hợp giáo dục giới tính trong dạy học môn Sinh học và Giáo dục công dân cho HS THCS tỉnh Thái Nguyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍCH HỢP GIÁO DỤC GIỚI TÍNH TRONG DẠY HỌC MÔN SINH HỌC VÀ GIÁO DỤC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC SƠ SỞ 1. Lịch sử nghiên cứu 1. Trên thế giới Từ xa xƣa, việc giáo dục giới tính đã đƣợc tiến hành dƣới ánh sáng của tôn giáo và đạo đức. Thần thoại và tƣợng trƣng tôn giáo có rất nhiều cách giải thích về mặt sinh học, tâm lý, nguồn gốc của đàn ông và đàn bà.
Thời kỳ này, việc giáo dục giới tính cho trẻ em cũng phần nào đƣợc định hình và ổn định. Các em gái đƣợc dạy dỗ theo hình mẫu của bà và mẹ còn các em trai theo hình mẫu của ông và bố. Đầu thế kỷ 20, với sự gia tăng của dân số thì vấn đề giáo dục giới tính càng đƣợc quan tâm và nhấn mạnh.I Lenin khẳng định: “Cùng với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề quan hệ giới tính, vấn đề hôn nhân gia đình cũng được coi là cấp bách”. Quan điểm của A.
Makarenco khẳng định: “Đạo đức xã hội đặt ra những vấn đề về giáo dục giới tính cho thanh niên. Sinh hoạt giới tính của con người liên quan mật thiết với việc giáo dục về tình yêu, về đời sống gia đình, tức là mối quan hệ giữa nam và nữ, mối quan hệ dẫn tới hạnh phúc của con người và việc giáo dục con cái. Khi giáo dục một con người, không thể quên giáo dục loại tình cảm đặc biệt đó về giới tính” Ông cho rằng: “Thanh niên cần phải học tập cách yêu đương, phải học tập để hiểu biết tình yêu, phải học tập cách sống hạnh phúc và như thế có nghĩa là học tập để biết tự trọng, học tập để biết cái vinh hạnh được làm người” Trong các bài giảng về giới tính ông cho rằng: “Chúng ta phải giáo dục con em chúng ta làm sao để các em có thái độ đối với tình yêu như đối với một Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ tình cảm nghiêm túc và sâu nặng để các em sẽ được hưởng khoái lạc của mình, tình yêu của mình, hạnh phúc của mình trong khuân khổ gia đình” I. Kon khẳng định: “Chuẩn bị cho nam nữ thanh niên bước vào cuộc sống gia đình đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống giáo dục đạo đức và giáo dục giới tính” Từ năm 1968, hầu hết các địa phƣơng của Liên Xô bắt đầu chú ý tổ chức việc hƣớng dẫn và tổ chức giáo dục điều trị, hƣớng dẫn các vấn đề về giới tính, nhất là đời sống tình dục và quan hệ hôn nhân.
Từ những năm 70, việc giáo dục giới tính cho học sinh đã đƣợc đề xuất, giảng dạy ở một số nơi. Năm 1982, Hội đồng Bộ trƣởng Liên Xô đã ra chỉ thị cho tất cả các trƣờng học trong cả nƣớc thực hiện chƣơng trình giáo dục vệ sinh và giáo dục giới tính cho học sinh các trƣờng phổ thông. Vào những năm 1984 – 1986 UNESCO khu vực Châu Á – Thái Bình Dƣơng đã nhấn mạnh vấn đề giáo dục giới tính trong giáo dục dân số. Tuy nội dung, phƣơng pháp giáo dục giới tính ở các nƣớc có sự khác nhau song tất cả đều thống nhất ở một điểm là cần phải tiến hành giáo dục giới tính cho thế hệ trẻ để chúng có kiến thức cơ bản cần thiết trong đời sống tình cảm nhằm góp phần phát triển lành mạnh quan hệ xã hội ở mỗi quốc gia.
Hiện nay, nhiều nƣớc nhƣ Tiệp Khắc, Hungary, Ba Lan… đều đã tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông bằng những chƣơng trình học bắt buộc. Còn ở các nƣớc Đông Nam Á nhƣ Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Singapore, Philippines… cũng đều đã thực hiện nội dung giáo dục này. Ở Philippines, giáo dục giới tính đã đƣợc đƣa vào chƣơng trình nội khóa của trƣờng phổ thông cơ sở và trung học phổ thông và là một bộ phận của giáo dục dân số, kế hoạch hóa gia đình. Hiện nay, hầu hết các nƣớc trong khu vực Đông Nam Á đã thực hiện quan điểm tích hợp ở những mức độ nhất định.
Trong những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, UNESCO đã có những hội Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ thảo với các báo cáo về việc thực hiện quan điểm tích hợp của những nƣớc tới dự. Trong những chƣơng trình mới nhất của một số nƣớc nhƣ Pháp, Hoa kì,., quan điểm tích hợp đƣợc ghi rõ trong chƣơng trình nghị sự và hành động. Theo thống kê của UNESCO, từ những năm 1960 đến năm 1974 đã có 208 chƣơng trình môn khoa học thể hiện quan điểm tích hợp ở những mức độ khác nhau từ liên môn, kết hợp, tích hợp hoàn toàn theo những chủ đề cụ thể. Từ những năm 1960, đã có nhiều hội nghị quốc tế bàn về việc phát triển chƣơng trình theo hƣớng tích hợp.
Năm 1981, một tổ chức quốc tế đã đƣợc thành lập để cung cấp các thông tin về các chƣơng trình các môn tích hợp (môn khoa học) nhằm thúc đẩy việc áp dụng quan điểm tích hợp trong việc thiết kế chƣơng trình các môn khoa học trên thế giới. Việt Nam Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây cùng với giáo dục dân số thì giáo dục giới tính cũng đƣợc quan tâm rộng rãi. Trong Chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do chủ tịch Hội đồng Bộ trƣởng Phạm Văn Đồng kí đã nêu rõ: "Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức về khoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái". Bộ giáo dục đã đƣa ra Chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tính trong toàn bộ hệ thống trƣờng học các cấp và các ngành học của cả nƣớc.
Từ năm 1985, những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình đã bắt đầu đƣợc công bố. Các tác giả Đặng Xuân Hoài, Trần Trọng Thủy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Nho, Bùi Ngọc Oánh… đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh cho tiết của giới tính và giáo dục giới tính Từ năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục đời sống gia đình và giới tính cho học sinh có ký hiệu VIE/88/P09 đã đƣợc Hội đồng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Chính phủ, Bộ giáo dục và Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO khu vực. Dự án này có sự chỉ đạo và tham gia trực tiếp của các nhà khoa học đứng đầu là PGS. Trần Trọng Thủy nghiên cứu khá rộng nhiều vấn đề nhƣ: quan niệm về tình bạn, tình yêu, hôn nhân, nhận thức về giới tính và giáo dục giới tính của giáo viên, học sinh, phụ huynh…ở nhiều nơi trong cả nƣớc để chuẩn bị tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12.
Ngay sau đó, một số nhà tâm lý học đã đi sâu vào nghiên cứu vấn đề này và đã đem lại kha nhiều thành công. Cuốn “Giáo dục giới tính ở nhà trường phổ thông cấp II” của PGS. Trần Trọng Thủy đã khái quát một số vấn đề cơ bản của giáo dục giới tính cho học sinh cấp II. Theo tác giả, nội dung giáo dục giới tính sẽ đƣợc lồng ghép trong các môn cơ bản của tất cả các bậc học, đặc biệt là bậc học THCS.
Các tác giả Nguyễn Văn Lê và Nguyễn Thị Đoan trong cuốn “Giáo dục giới tính” – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội – năm 1997 cũng đã tổng kết một số kinh nghiệm về giáo dục giới tính và giới thiệu chƣơng trình giáo dục giới tính của một số nƣớc, đặc biệt trong đó đề cập đến giáo dục giới tính cho thiếu niên và đã đƣa ra một số nội dung, phƣơng pháp giáo dục giới tính cho các em ở lứa tuổi này. Tác giả Bùi Ngọc Oánh - “Tâm lý học giới tính và giáo dục giới tính” – NXB Giáo dục – Năm 2008 cũng đã tổng kết các vấn đề về đời sống giới tính; tâm lý học giới tính; các nhiệm vụ, nội dung, nguyên tắc giáo dục giới tính và các vấn đề thực tiễn trong giáo dục giới tính. Gần đây, nhiều luận văn thạc sỹ và luận án tiến sỹ của một số cán bộ chuyên ngành giáo dục đã đề cập đến vấn đề giáo dục giới tính cho thiếu niên và chƣơng trình giáo dục giới tính cho thiếu niên. Những nội dung quý báu trên sẽ là những kiến thức thiết thực, hữu ích cho việc nghiên cứu vấn đề giáo dục giới tính cho thiếu niên hiện nay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Đối với Việt Nam, việc xây dựng chƣơng trình và SGK theo quan điểm tích hợp đã và đang đƣợc tiến hành tuy nhiên vẫn chƣa đƣợc đầu tƣ nghiên cứu một cách đầy đủ. Ở cấp học THCS và THPT tích hợp các môn học còn đang đƣợc nghiên cứu thử nghiệm trong phạm vi hẹp mà chƣa đƣợc triển khai đại trà. Xu hƣớng tích hợp không chỉ nhằm rút gọn thời lƣợng trình bày tri thức của nhiều môn học mà quan trọng hơn là tập dƣợt cho HS cách vận dụng tổng hợp các tri thức vào thực tiễn vì giải quyết một vấn đề thực tiễn thƣờng phải huy động tri thức của nhiều môn học - dạy học từng môn riêng rẽ sẽ đem lại những tri thức hàn lâm có hệ thống nhƣng khó vận dụng vào thực tiễn. Hiện nay, vấn đề cần hay không cần tích hợp các môn học khác nhau không đặt ra nữa.
Câu trả lời là: Cần phải tích hợp các môn học. Những nhu cầu của xã hội đòi hỏi chúng ta phải hƣớng tới quan điểm liên môn và xuyên môn. Quan điểm liên môn trong đó chúng ta phối hợp sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết tình huống. Quan điểm xuyên môn trong đó chúng ta tìm cách phát triển ở HS những kỹ năng xuyên môn.