phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, phần nội dung của luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua dạy học môn giáo dục công dân ở trƣờng trung học cơ sở Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua dạy học môn giáo dục công dân ở các trƣờng trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua dạy học môn giáo dục công dân ở các trƣờng trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1 Các nghiên cứu ở ngoài nước Mác – Ăngghen - Lênin đặt nền móng và xây dựng học thuyết về đạo đức và giáo dục. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định nguồn gốc sâu xa của đạo đức chính là đời sống lao động và mỗi bản thân con ngƣời.
Hiện tƣợng chịu sự tác động của nguyên nhân kinh tế và xã hội, khẳng định nền kinh tế - xã hội, xét đến cùng quyết định đặc trƣng cơ bản của đạo đức và nội dung chủ yếu của nó. Thực chất của mối quan hệ đạo đức là mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, sản xuất phát triển làm cho tồn tại xã hội phát triển dẫn tới mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội cũng thay đổi theo, tức là nhu cầu đạo đức thay đổi. Cho nên đạo đức có một quá trình lịch sử gắn liền với lịch sử sản xuất vật chất. Các nghiên cứu ở trong nước Chủ tịch Hồ Chí Minh là một ngƣời đặc biệt chú trọng đến giáo dục đạo đức.
Tƣ tƣởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam đã đƣợc hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo tƣ tƣởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại, cả phƣơng Đông và phƣơng Tây, mà Ngƣời đã tiếp thu đƣợc trong quá trình hoạt động cách mạng đầy gian lao, thử thách và vô cùng phong phú vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con ngƣời. Chủ tịch Hồ Chí Minh thƣờng nhấn mạnh đến giá trị đạo đức cách mạng là nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm và cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tƣ. Đạo đức cách mạng mà Hồ Chí minh quan tâm và đề cao không chỉ là đạo đức theo nghĩa thông thƣờng 7 mà là khẳng định những giá trị đạo đức truyền thống, đồng thời tiếp thu phát triển tinh hoa đạo đức của nhân loại.
Luật giáo dục 2019 mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con ngƣời Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nƣớc, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tƣởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế. Nghị quyết Hội nghị lần III Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa VIII khẳng định: "Mục tiêu chủ yếu là giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ ở tất cả các bậc học, hết sức coi trọng giáo dục chính trị, tƣ tƣởng, nhân cách, khả năng tƣ duy sáng tạo và năng lực thực hành ” [9]. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và Kết luận số 51-KL/TW ngày 30/5/2019 của Ban Bí thƣ về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa XI “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Bộ sách Bác Hồ và những bài học đạo đức, lối sống do PGS.TS Nguyễn Văn Tùng (Chủ biên) và nhóm tác giả biên soạn dựa trên ý tƣởng giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh thông qua những câu chuyện đặc sắc từ cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh Thấm nhuần tƣ tƣởng của Bác, cùng với những sự thay đổi mang nét đặc trƣng riêng của xã hội Việt Nam qua các thời kỳ còn có các công trình nghiên cứu của các tác giả về đạo đức và giáo dục đạo đức, nổi bật là các nghiên cứu: "Giáo trình đạo đức" của Trần Đăng Sinh - Nguyễn Thị Thọ “Những vấn đề giáo dục đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta” của Nguyễn 8 Quang Uẩn và Nguyễn Văn Phúc; “Phƣơng pháp giáo dục cho trẻ em hƣ” của Phạm Công Sơn - Tô Quốc Tuấn (1997),. Với định hƣớng chiến lƣợc xây dựng đạo đức con ngƣời Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu đƣợc thực hiện theo hƣớng này, nhƣ “Giáo trình đạo đức học Mác – Lênin” của Vũ Trọng Dung (chủ biên), 2006; “giáo dục đạo đức trong nhà trƣờng” của Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, 1988; “Giáo trình đạo đức học” của Phạm Khắc Chƣơng, Hà Nhật Thăng, 2001.2 Các khái niệm chính 1.
Quản lý Quản lý là một hoạt động lao động xã hội mang tính đặc thù, gắn liền và phát triển cùng với lịch sử phát triển loài ngƣời. Từ khi có sự phân công lao động trong xã hội đã xuất hiện một dạng lao động đặc biệt, đó là tổ chức, điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định. Dạng lao động mang tính đặc thù đó còn đƣợc gọi là hoạt động quản lý. Tùy từng cách tiếp cận mà ngƣời ta có thể đƣa ra những khái niệm khác nhau về quản lý.
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học quản lý và khoa học giáo dục đƣa ra định nghĩa về thuật ngữ quản lý dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau. Theo Trần Kiểm, “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”.15] Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt lại có quan điểm: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định” [13, tr. Tác giả Bùi Minh Hiền: “Thuật ngữ quản lý gồm hai quá trình tích hợp nhau: Quá trình quản bao gồm coi sóc, giũ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái ổn định; quá trình lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới đựa hệ vào thế phát triển” [8. Đạo đức Theo Từ điển bách khoa toàn thƣ: “Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội bao gồm những chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi của con ngƣời trong quan hệ với ngƣời khác và với cộng đồng (gia đình, làng xóm, giai cấp, dân tộc hoặc toàn xã hội).
Dƣới góc độ triết học, ngƣời ta quan niệm rằng Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con ngƣời trong quan hệ với ngƣời khác với cộng đồng. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Đạo đức có thể đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng, theo nghĩa hẹp "Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những quy định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con ngƣời với con ngƣời, với công việc với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trƣờng sống" [13, tr. Theo nghĩa rộng "khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống, đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của cá nhân đƣợc xã hội hoá '' [13, tr. Theo tác giả Trần Hậu Kiểm: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, yêu cầu, chuẩn mực xã hội.
Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con ngƣời tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con ngƣời và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, giữa cá nhân với xã hội” [22]. Theo tác giả Phạm Khắc Chƣơng và Hà Nhật Thăng: "Đạo đức là một hình thái của ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con ngƣời tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với hạnh phúc của con ngƣời và tiến bộ xã hội giữa con ngƣời với con ngƣời, giữa cá nhân với xã hội" [9, Tr25]. Từ những quan niệm khác nhau ở trên, có thể khái quát đạo đức là một hệ thống các qui tắc, các chuẩn mực nhằm điều chỉnh hành vi và đánh giá cách 10 ứng xử của con ngƣời trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội để bảo vệ lợi ích cá nhân và của cộng đồng, chúng đƣợc đảm bảo thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống, tập quán và sức mạnh của dƣ luận xã hội. Giáo dục đạo đức Theo từ điển bách khoa Việt Nam: “Giáo dục đạo đức (gọi tắt đức dục), bộ phận có tính chất nền tảng của giáo dục, có nhiệm vụ rèn luyện lý tƣởng, ý thức, thói quen và hình thành ở học sinh các phẩm chất đạo đức nhƣ lòng nhân ái, yêu Tổ quốc, yêu lao động, tính trung thực, khiêm tốn, tự trọng, dũng cảm,… Giáo dục đạo đức gắn chặt với giáo dục tƣ tƣởng - chính trị, giáo dục pháp luật và giáo dục trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, lao động hƣớng nghiệp.
Đƣợc thực hiện bằng hai con đƣờng chủ yếu: 1) Dạy cho học sinh những tri thức về các chuẩn mực đạo đức. 2) Tổ chức các hoạt động và giao lƣu qua đó hình thành hành vi và thói quen đạo đức.