phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của đề tài gồm 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động GDKNS cho HS tiểu học trong bối cảnh hiện nay. Thực trạng quản lý hoạt động GDKNS cho HS các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh hiện nay. Biện pháp quản lý hoạt động GDKNS cho HS các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh hiện nay.
4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Về hoạt động GDKNS Thuật ngữ “Kỹ năng sống” được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trình của UNICEF (1996) "GDKNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường". Thời gian đầu của chương trình, khái niệm KNS được giới thiệu bao gồm những kỹ năng đó là: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu.
Ở giai đoạn này chủ đề giáo dục sức khỏe được tập trung chủ yếu. Sang giai đoạn hai, chương trình này mang tên: "Giáo dục sống khỏe mạnh và KNS" trong đó nội dung GDKNS đã được phát triển sâu sắc hơn. Thuật ngữ “KNS” được hiểu một cách rộng rãi hơn “KNS là các kỹ năng thiết thực mà con người cần đến để có cuộc sống an toàn và khỏe mạnh” [1, tr. Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, một số bộ Luật của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi cũng đã có những định hướng và điều khoản liên quan đến việc trang bị KNS cho HS như: Luật chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 hay Luật giáo dục năm 2005.
Từ năm 2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện GDKNS cho HS phổ thông qua dự án “Giáo dục sống khoẻ mạnh, KNS cho trẻ và vị thành niên” với sáng kiến và hỗ trợ của UNICEF tại Việt Nam. Năm học 2007 - 2008, Bộ Giáo dục và đào tạo bắt đầu triển khai phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực”, trong đó có các mục tiêu liên quan đến GDKNS như: Rèn luyện kỹ năng ứng xử phù hợp với các tình huống trong cuộc sống; thói quen và kỹ năng làm việc - 5 sinh hoạt theo nhóm; Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe; Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội. Nhận thấy tầm quan trọng của việc GDKNS cho HS, có nhiều tác giả cũng bắt đầu nghiên cứu và viết một số tài liệu liên quan đến lĩnh vực KNS, các tác giả đi sâu nghiên cứu về hoạt động GDKNS, các biện pháp GDKNS, do đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này. Nổi bật nhất phải kể đến tác giả Nguyễn Thanh Bình, với cuốn sách “Giáo trình GDKNS”, Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội năm 2009, giáo trình đề cập chủ yếu đến những vấn đề đại cương về KNS, một số biện pháp nhằm GDKNS cho HS [6].
Năm 2009, tác giả Huỳnh Văn Sơn xuất bản tài liệu “Nhập môn KNS” với các nội dung cơ bản: Những vấn đề chung về KNS và một số KNS cơ bản [28]. Tác giả Ngô Thị Tuyên trong cuốn “Cẩm nang giáo dục cho HS tiểu học”[33] đã chỉ ra rằng KNS là sản phẩm bắt buộc phải có của giáo dục nhà trường. Tác giả đưa ra khái niệm về KNS, các loại KNS, vị trí vai trò của KNS trong giáo dục nhà trường, phương pháp GDKNS và trình bày phương pháp xây dựng một chương trình học tập, nguyên tắc chọn nội dung và và hướng dẫn giáo viên phương pháp giáo dục cho trẻ bằng việc làm để có được sản phẩm là KNS. Tác giả Nguyễn Dục Quang trong cuốn “Hướng dẫn GDKNS cho HS phổ thông”[32] cho rằng: “Cách thức GDKNS được hiểu bao gồm những phương pháp tiếp cận, các PPDH tích cực và các hình thức tổ chức hoạt động GDKNS cần quan tâm đến vai trò của người học”.
Tác giả Vũ Minh trong bài báo “ Dạy KNS cho trẻ cả giáo viên và gia đình lúng túng ” đã chỉ ra vai trò quan trọng của việc GDKNS cho HS tiểu học và những bất cập trong việc triển khai GDKNS cho HS khi chưa có một giáo trình thống nhất và bản thân giáo viên còn rất lúng túng trong việc GDKNS lồng ghép vào các môn học. Tuy nhiên tác giả chưa nghiên cứu và đưa ra những giải pháp cụ thể khắc phục tình trạng này. Tác giả Nguyễn Công 6 Khanh với cuốn sách “Phương pháp GDKNS”, Nhà xuất bản Đại học sư phạm 2013[19]. Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Đinh Thị Kim Thoa - Bùi Thị Thúy Hằng trong “GD giá trị sống và KNS cho HS tiểu học”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2010, đã chỉ ra mối quan hệ liên thuộc giữa giáo dục và KNS, trong đó giáo dục là nền tảng, KNS là công cụ và phương tiện để tiếp nhận và thể hiện [23].
Các đề tài này đã cho thấy GDKNS là mục tiêu, nhiệm vụ trong nhiệm vụ giáo dục toàn diện cho HS ở trường phổ thông. GDKNS thông qua hoạt động GDNGLL và tích hợp vào nội dung dạy học là con đường GDKNS hiệu quả mà không làm quá tải các hoạt động trong quá trình dạy và học. Các tác giả cũng đã chỉ ra một số biện pháp xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo để quản lý việc GDKNS đạt hiệu quả. Mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động GDKNS, nhưng chủ yếu các công trình, đề tài mới chỉ tập trung làm rõ thực trạng trước tính cấp bách của vấn đề GDKNS và chỉ thực hiện trong nhà trường là chủ yếu, trong nội dung tích hợp vào các môn học mà chưa quan tâm các HĐGD ngoài nhà trường thông qua các hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
Đây là con đường dạy và rèn KNS hiệu quả nhất. Do vậy trong đề tài này tác giả mong muốn đề cập đến việc thực hiện đồng bộ, đa dạng các hình thức dạy KNS cho HS tiểu học, đặc biệt là trải nghiệm sáng tạo góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động GDKNS cho HS. Về quản lý hoạt động GDKNS GDKNS là cần thiết và quan trọng trong bối cảnh hiện nay, tuy nhiên việc GDKNS có đạt hiệu quả hay không thì phụ thuộc rất nhiều vào việc quản lý hoạt động GDKNS. Chính vì lý do đó mà nhiều tác đã đã đi sâu nghiên cứu về quản lý hoạt động GDKNS.
Trong đó phải kể đến tác giả Nguyễn Hữu Đức nghiên cứu đề tài: “Quản lý GDKNS cho HS trường trung học phổ thông Trần Hưng Đạo, Nam Định trong giai đoạn hiện nay”- Luận văn thạc sỹ QLGD[14]. Tác giả Lương Thị Hằng nghiên cứu “Biện pháp quản lý HĐGD KNS cho HS ở 7 trường trung học phổ thông Nam Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên[16]. Tác giả Nguyễn Tiến Dũng nghiên cứu “Quản lý hoạt động GDKNS cho HS ở trường Trung học phổ thông thành phố Điện Biên Phủ trong bối cảnh hiện nay” – Luận văn thạc sỹ QLGD năm 2015[12]. Đặc biệt, năm 2015 tác giả Lưu Thị Thu Hà nghiên cứu đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động GDKNS cho HS trường trung học phổ thông Trung Văn, Hà Nội” – Luận văn thạc sỹ QLGD [14], đề tài đã nghiên cứu thực trạng và xây dựng thành công 8 biện pháp quản lý của nhà trường đối với công tác quản lý hoạt động GDKNS cho HS trong nhà trường.
Nhìn chung qua các đề tài nghiên cứu cho thấy ở Việt Nam trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề GDKNS và công tác quản lý GDKNS trong nhà trường. Tuy nhiên đề tài chủ yếu tập trung cho HS trung học phổ thông, chưa có nhiều đề tài nghiên cứu cho HS tiểu học. Một số chỉ dừng lại trong phạm vi hẹp của từng nhà trường, chưa áp dụng đồng bộ, rộng rãi cho những nhà trường có đặc điểm giống nhau và đặc biệt là chưa có tác giả nào nghiên cứu về lĩnh vực quản lý hoạt động GDKNS cho HS tiểu học đồng bộ ở cả môi trường giáo dục trong và ngoài nhà trường trên địa bàn thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Xác định đây là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết, kế thừa và phát huy những kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Quản lý HĐGD kĩ năng sống cho HS các trường tiểu học thị xã Phú Thọ - Tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh hiện nay” để tiến hành nghiên cứu.
Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý, QLGD, quản lý nhà trường Quản lý Khái niệm “Quản lý” đã được hình thành từ rất lâu cùng với sự phát triển của nhân loại. Mọi hoạt động của xã hội đều cần quản lý. Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật.
khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, để hoạt động đạt hiệu quả nhằm đạt mục tiêu chung, cần thiết phải có hoạt động quản lý. Xuất phát từ những quan điểm khác nhau, cách tiếp cận 8 khác nhau, đã có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý: Theo từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Minh Hoàng có ghi: “Quản lý là trông nom, coi sóc, giữ gìn việc gì” [17, tr. Theo Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (tập thể những người lao động), nhằm thực hiện các hoạt động để đạt được mục tiêu đã dự kiến” [10, tr. Tác giả Nguyễn Bá Sơn, trong tác phẩm “Một số vấn đề cơ bản về khoa học quản lý”, “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động” [27, tr.
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [20, tr.