MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Có thể thấy tình hình thương mại hóa công nghệ trong các trường đại học ở Việt Nam nói chung trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng đang có rất nhiều chuyển biến và thay đổi tích cực. Nhận thức của doanh nghiệp về vai trò của khoa học và công nghệ (KH&CN), đổi mới KH&CN ngày càng tăng lên nhằm tạo thêm sức cạnh tranh. Trong các trường đại học, viện nghiên cứu, hướng nghiên cứu khoa học đã ngày càng gắn với thực tiễn nhiều hơn.
Chính sách khuyến khích của Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để liên kết trường đại học và các doanh nghiệp, phát triển thị trường KH&CN, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu đại học – doanh nghiệp. Nhiều Luật, Nghị định liên quan đến vấn đề này như: Luật KH&CN, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ… cũng đã tạo ra các hành lang pháp lý phù hợp để thúc đẩy mối liên kết này. Viện khoa học sự sống trực thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên là một viện nghiên cứu chuyên sâu về các lĩnh vực nghiên cứu khoa học (cơ bản và ứng dụng, viện có đội ngũ đông đảo chuyên sâu ở trong và ngoài nước về các lĩnh vực khác nhau của khoa học sự sống. Viện được thành lập từ năm 2008 cho đến nay.
Bên cạnh những thuận lợi, việc thương mại hóa công nghệ trong các trường đại học ở Việt Nam vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn cần khắc phục. Từ phía trường đại học, nhu cầu và khả năng liên kết với doanh nghiệp của các trường đại học chưa cao do thiếu động lực và thiếu cơ chế gắn kết, sản phẩm KH&CN còn ít và kém chất lượng, năng lực và trang thiết bị còn hạn h 2 chế, thời gian nghiên cứu dài trong khi nhu cầu doanh nghiệp cần sớm có công nghệ, thiếu cơ quan chuyên trách hiểu biết và gắn kết với doanh nghiệp Còn từ phía doanh nghiệp, phần lớn là doanh nghiệp Việt Nam (trên 90% có vốn dưới 10 tỷ đồng) với quy mô nhỏ, quy trình sản xuất đơn giản, tài chính hạn chế, khó có điều kiện liên kết. Các doanh nghiệp vẫn chưa quan tâm đúng mức đến cơ chế đầu tư tài chính cho việc nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ, thẩm định giá công nghệ… Ngoài ra, còn có một vấn đề “nhạy cảm” là vấn đề bảo mật kinh doanh, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thật sự tin tưởng vào các trường đại học… Về phía Nhà nước, còn nhiều chính sách ưu tiên cho trường công lập nên trường đại học và các doanh nghiệp vẫn chưa tích cực liên kết với nhau. Thông tin từ các chính sách khuyến khích chưa được phổ biến đầy đủ, kịp thời; thiếu cơ quan chuyên môn xúc tiến liên kết đại học – doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, nhận thức và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) còn yếu kém nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến thương mại học công nghệ đại học – doanh nghiệp và hoạt động sáng tạo tại các trường đại học. Từ thực tiễn của trường ĐHNL trong thời gian học tập và thực tập tại trường em đã chọn nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu thực trạng thương mại hóa khoa học công nghệ của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2015-2017’’. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng thương mại hóa khoa học công nghệ của trường, phân tích những thuận lợi và khó khăn của các đề tài nghiên cứu của trường trong thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu từ đó đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu của trường trong tương lai h 3 1.
Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu cụ thể về điều kiện nguồn lực kinh tế, cơ sở vật chất kỹ thuật liên quan đến thương mại hóa khoa học công nghệ. - Đánh giá thực trạng các đề tài nghiên cứu khoa học mang tính thương mại hóa sản phẩm của trường qua các năm - Phân tích được các điểm mạnh, điểm yếu của sự phát triển các sản phẩm khoa học công nghệ của trường - Đưa ra được một số giải pháp thúc đẩy các đề tài của nhà trường được thương mại hóa. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa học tập - Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố và tổng hợp những kiến thức đã được học.
- Có được tư duy một cách lôgic và biết cách vận dụng những kiến thức đã được học vào thực tiễn, đồng thời học hỏi được nhiều kinh nghiệm trong thực tế và cũng là cơ hội gặp gỡ, học tập trao đổi kiến thức với những người có kinh nghiệm như chính thầy cô của mình. - Qúa trình thực hiện đề tài thực tập sẽ nâng cao năng lực cũng như rèn luyện kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân mỗi snh viên. - Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa, cơ quan trong nghành và sinh viên các khóa tiếp theo. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở để các cấp lãnh đạo của trường đưa ra những giải pháp phù hợp để thúc đẩy có nhiều sản phẩm nghiên cứu có tính thương mại cao, nâng cao vị thế của trường, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp của người dân.
h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2. Các khái niệm về thương mại hóa khoa học công nghệ * Khái niệm: Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ, v…v giữa hai hay nhiều đối tác và có thể nhận lại một giá tị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bàng hàng hóa, dịch vu, …cho người mua,đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đương nào đó. * Khái niệm khoa học: Khoa học được hiểu là tập hợp những hiểu biết về tự nhiên, xã hội và tư duy được thể hiện bằng những phát minh dưới dạng các lý thuyết, định lý, định luật và các nguyên tắc.
* Khái niệm công nghệ: Công nghệ được hiểu là những hiểu biết được tạo ra các giải pháp kỹ thuật được áp dụng vào trong sản xuất và đời sống. * Khái niệm chuyển giao công nghệ: Là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền sang bên nhận công nghệ. Trong đó: * Chuyển giao quyền sở hữu công nghệ: Là việc chủ sở hữu chuyển giao toàn bộ quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt công nghệ cho tổ chức, cá nhân khác. Trường hợp công nghệ là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì việc chuyển giao quyền sở hữu công nghệ phải được thực hiện cùng với việc chuyển giao quyề sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
* Chuyển giao quyền sử dụng công nghệ: Tổ chức, cá nhân cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng công nghệ của mình Phạm vi chuyển giao quyền sử dụng công nghệ do các bên thỏa thuận bao gồm: h 5 + Độc quyền hoặc không độc quyền sử dụng công nghệ; + Được chuyển giao lại hoặc không được chuyển giao lại quyền sử dụng công nghệ cho bên thứ ba; + Lĩnh vực sử dụng công nghệ; + Quyền được cải tiến công nghệ, quyền được nhận thông tin cải tiến công nghệ; + Độc quyền hoặc không độc quyền phân phối, bán sản phẩm do công nghệ được chuyển giao tạo ra; + Phạm vi lãnh thổ được bán sản phẩm do công nghệ được chuyển giao tạo ra; + Các quyền khác liên quan đến công nghệ được chuyển giao. Trường hợp công nghệ là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì việc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ phải được thực hiện cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Các quan điểm về thương mại hóa khoa học công nghệ 2. Quan điểm về Thương mại hóa Thị trường là cơ chế để thương mại hoạt động được.
Dạng nguyên thủy của thương mại là hàng đổi hàng (barter), trong đó người ta trao đổi trực tiếp hàng hóa hay dịch vụ mà không cần thông qua các phương tiện thanh toán. Ví dụ, một người A đổi một con bò lấy 5 tấn thóc của người B chẳng hạn. Hình thức này còn tồn tại đến ngày nay do nhiều nguyên nhân (chẳng hạn do bên bán không tin tưởng vào tỷ giá hối đoái của đồng tiền sử dụng để thanh toán). Trong hình thức này không có sự phân biệt rõ ràng giữa người bán và người mua, do người bán mặt hàng A lại là người mua mặt hàng B đồng thời điểm.
Việc phát minh ra tiền (và sau này là tín dụng, tiền giấy và tiền ảo (tức không phải tiền tồn tại dưới hình thức được in hay được đúc ra) như là h 6 phương tiện trao đổi đã đơn giản hoá đáng kể hoạt động thương mại và thúc đẩy hoạt động này, nhưng bên cạnh đó nó cũng phát sinh ra nhiều vấn đề mà hoạt động thương mại thông qua hình thức hàng đổi hàng không có. Hoạt động thương mại hiện đại nói chung thông qua cơ chế thỏa thuận trên cơ sở của phương tiện thanh toán, chẳng hạn như tiền. Kết quả của nó là việc mua và việc bán tách rời nhau. Thương mại tồn tại vì nhiều lý do.
Nguyên nhân cơ bản của nó là sự chuyên môn hóa và phân chia lao động, trong đó các nhóm người nhất định nào đó chỉ tập trung vào việc sản xuất để cung ứng các hàng hóa hay dịch vụ thuộc về một lĩnh vực nào đó để đổi lại hàng hóa hay dịch vụ của các nhóm người khác. Thương mại cũng tồn tại giữa các khu vực là do sự khác biệt giữa các khu vực này đem lại lợi thế so sánh hay lợi thế tuyệt đối trong quá trình sản xuất ra các hàng hóa hay dịch vụ có tính thương mại hoặc do sự khác biệt trong các kích thước của khu vực (dân số chẳng hạn) cho phép thu được lợi thế trong sản xuất hàng loạt. Vì thế, thương mại theo các giá cả thị trường đem lại lợi ích cho cả hai khu vực. Quan điểm về hoạt động khoa học công nghệ Theo cách hiểu chung nhất, hoạt động khoa học và công nghệ là tập hợp toàn bộ các hoạt động có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho tàng kiến thức liên quan đến con người, tự nhiên và xã hội, nhằm sử dụng những kiến thức đó để toại ra những ứng dụng mới.