phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, bảng biểu và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc chia làm 4 chƣơng: Chƣơng 1:Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động QTĐH và quản trị doanh nghiệp Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động đào tạo tại ĐHKT - ĐHQGHN Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị công tác đào tạo tại trƣờng ĐHKT – ĐHQGHN dƣới góc nhìn quản trị doanh nghiệp 5 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QTĐH VÀ QTDN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về QTĐH và QTDN 1.1 Nghiên cứu nước ngoài Theo Bob Emiliani trong bài viết “Lean in Higher Education” (2005), ông khẳng định đây chính là thời khắc mà các trƣờng đại học bắt đầu áp dụng QTTG vào công việc kinh doanh của mình. Ông cho rằng sinh viên khi đƣợc giáo dục trong một hệ thống quy tắc và thực hành tinh gọn – hiểu biết về sự lãng phí, sơ đồ chuỗi giá trị, kaizen, tôn trọng mọi ngƣời, sự cân bằng,. – sẽ đƣợc đánh giá cao hơn bởi các chủ doanh nghiệp do việc áp dụng những kiến thức này sẽ mang lại kết quả tốt hơn cho trong kinh doanh.
Nhận thấy những thử thách chƣa từng có mà thầy cô giáo tại Mỹ sẽ phải đối mặt trong tƣơng lai, học giả Betty Ziskovky và Joe Ziskovsky của Tập đoàn Lean Education Enterprises đã đề cập đến Tƣ duy tinh gọn trong bài viết “Doing more with less – Going lean in education” (2007). Việc đƣa ra các hệ thống lý thuyết về QTTG và khả năng ứng dụng nó vào ngành giáo dục đã giúp các nhà sƣ phạm tại Mỹ hiểu rõ hơn về nhiệm vụ “to do more with less” trong thế kỷ 21 bằng cách tập trung loại bỏ các bƣớc không cần thiết hoặc không mang lại lợi ích trong quy trình và hệ thống giảng dạy. Bài viết cũng dẫn chứng một nghiên cứu điển hình mô tả việc Lean Process Improvement đƣợc sử dụng để cải thiện công tác giảng dạy cũng nhƣ thành tích học tập của sinh viên cùng lúc với tiết kiệm chi phí. Balzer (2010), “QTTG trong giáo dục đại học”, cung cấp những lời khuyên thiết thực, các nghiên cứu điển hình và lý thuyết về cách thức thực hiện mô hình QTTG trong giáo dục đại học.
Ông cũng đã trình bày rất nhiều bằng chứng thực tế đã ứng dụng thành công các nguyên lý QTTG 6 z vào các trƣờng đại học lớn trên thế giới và cung cấp các phƣơng pháp đã đƣợc chứng minh để loại bỏ các hoạt động không mang lại giá trị cho trƣờng đại học. Balzer đã thực hiện một số nghiên cứu điển hình tại Đại học Central Oklahoma (UCO), Đại học Iowa, Đại học New Orleans, Đại học bang Bowling Green, Đại học Scranton và Viện Bách khoa Rensselaer (RPI) cho thấy hiệu quả gia tăng giá trị cũng nhƣ hiệu suất quy trình của trƣờng đại học khi khởi đầu áp dụng mô hình QTTG trong trƣờng đại học. Paminder Singh Kang và cộng sự trong bài viết „Exploration of Lean Principals in Higher Educational Institutes – Based on Degree of Implementation and Indigence” (2014) cho rằng xét về bối cảnh chung, các vấn đề liên quan mà các trƣờng đại học gặp phải cũng nhƣ các mục tiêu của họ đều tƣơng tự nhƣ ngành công nghiệp sản xuất. Bài viết đã xây dựng một mô hình chung cho các lãng phí trong trƣờng đại học trên phƣơng diện ba yếu tố nền tảng: Sinh viên, hoạt động nghiên cứu và nhân viên, từ đó cung cấp khung cơ bản cho những bƣớc cải tiến quy trình trong ngành công nghiệp giáo dục nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận, hiệu suất công việc cũng nhƣ sự hài lòng của khách hàng với chất lƣợng dịch vụ cao đồng thời giảm thiểu chi phí và lãng phí – một trong những những mục tiêu của bất kỳ tổ chức nào.
Cũng trong một nghiên cứu năm 2014 Mark Robinson – Trƣởng nhóm Tinh gọn của trƣờng Đại học St Andrews đã cùng Steve YorkStone phát triển định nghĩa tinh gọn mà ông tin rằng có thể hoạt động tốt trong các trƣờng đại học và viện nghiên cứu. Từ đó, tác giả đƣa ra các triết lý tinh gọn và “Mô hình trƣờng Đại học St Andrews” dựa trên hoạt động nghiên cứu của nhóm Tinh gọn. Trải qua bốn năm đầu tiên khi áp dụng 8 bƣớc tiếp cận trong mô hình, nhóm Tinh gọn của trƣờng đã mang đến nhiều kết quả khởi đầu tích cực. Đồng thời nhóm cũng đã dành hai năm để chuyển giao và đào tạo các hoạt động tinh gọn cho các tổ chức, chiếm ƣu thế hơn hẳn chính là các trƣờng 7 z đại học tại Anh.
Điều này cho thấy sự thành công của việc áp dụng lý thuyết QTTG vào các trƣờng đại học.2 Nghiên cứu trong nước Trong một hội thảo quốc tế của Trung tâm SEAMEO – VIỆT NAM, Nghiên cứu sinh tiến sĩ Ngô Tuyết Mai (2012) đã chỉ rằng QTĐH hiện đang là quan điểm thế giới khi bà nêu bật đƣợc tầm quan trọng của QTĐH đối với việc hình thành vận mệnh của một trƣờng đại học. Theo bà, QTĐH đúng đắn có thể trở thành tâm điểm thành công hoặc thất bại của bất kỳ trƣờng đại học đƣơng thời nào, bởi quản trị dù không bao hàm trong đó việc giảng dạy và nghiên cứu nhƣng nó lại ảnh hƣởng và tạo điều kiện cho việc giảng dạy và nghiên cứu đƣợc tiến hành. Tƣ duy này hoàn toàn thuận theo lịch sử phát triển quan điểm về QTĐH. Cũng nhƣ Henard & Mitterle (2009, trang 15) đã viết “QTĐH đã trở thành công cụ đòn bẩy tài chính để cải thiện chất lƣợng trong mọi lĩnh vực của giáo dục đại học.
Chất lƣợng giáo dục đại học có mối quan hệ với các vấn đề về quản trị.” Đồng tác giả Nguyễn Đông Phong và Nguyễn Hữu Huy Nhựt (2013) với bài báo “QTĐH và mô hình trƣờng đại học khối kinh tế ở Việt Nam” đã tập trung phân tích và nhấn mạnh sự cần thiết trong việc đổi mới công tác QTĐH trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh gay gắt hiện nay. Các tác giả cũng nhấn mạnh nhu cầu tự chủ của các trƣờng đại học là tất yếu và đây sẽ là yếu tố thuận lợi để các trƣờng đại học áp dụng các phƣơng pháp QTĐH tiên tiến trên thế giới. Trong bài viết “Mô hình đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay”, Phùng Xuân Nhạ (2009) cho rằng tình trạng “bế tắc” về chất lƣợng đầu ra của trƣờng đại học và đầu vào của các doanh nghiệp chủ yếu là do đôi bên chƣa nhìn thấy đƣợc lợi ích của sự hợp tác cũng nhƣ xác định rõ nội dung và cơ chế hợp tác. Bài viết đồng thời cũng chỉ ra đƣợc các 8 z điều kiện cơ bản để đảm bảo thành công đào tạo gắn liền với nhu cầu của doanh nghiệp.
Cũng bàn về mô hình giáo dục và các phƣơng pháp QTĐH trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, Nguyễn Hữu Quý (2010) trong nghiên cứu của mình “Quản lý trƣờng đại học theo mô hình Balanced ScoredCard” đã chỉ ra tính cấp thiết của việc áp dụng Balanced ScoreCard trong quản lý giáo dục đại học Việt Nam. Tác giả đã phân tích tính ứng dụng của mô hình Balanced ScoredCard trong lĩnh vực giáo dục đại học đƣợc nhìn dƣới bốn bình diện: Financial Perspective (Tài chính), Student Perspective (Sinh viên), Learning and Growth Perspective (Học tập và phát triển) Internal Bussiness Processes Perspective (Các quy trình nội bộ) nhằm thực hiện tốt mục tiêu của nhà trƣờng. Nhƣ vậy, lãnh đạo nhà trƣờng phải tự xem trƣờng đại học nhƣ một doanh nghiệp thực thụ và phải thƣờng xuyên điều chỉnh các chiến lƣợc phát triển trong môi trƣờng cạnh tranh hiện nay để cân bằng những mục tiêu trƣớc mắt và mục tiêu lâu dài, cân đối giữa các quyền lợi nội bộ và quyền lợi của sinh viên đồng thời nâng cao chất lƣợng đào tạo, giảng dạy. Cùng mục đích nghiên cứu về mô hình quản lý đại học, đồng tác giả TS.
Hoàng Hùng, TS. Lê Văn Sỹ, TS. Nguyễn Văn Lợi, TS. Lê Quốc Phong và Nguyễn Quang Vinh (2016) đã chỉ ra trong bài viết “Mô hình trƣờng “Đại học – Doanh nghiệp”: Mô hình, cơ chế và chính sách trong bối cảnh Việt Nam” rằng việc tăng cƣờng mối liên kết giữa đại học và doanh nghiệp nhằm chuyển giao tri thức từ trƣờng đại học vào cuộc sống sẽ là một giải pháp lớn góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội và đồng thời tạo đà phát triển cho bản thân trƣờng đại học.
Một trong những phƣơng pháp QTĐH đang dần đƣợc hƣớng đến chính là QTĐH tinh gọn. Theo nghiên cứu “Ứng dụng công cụ QTTG nâng cao hiệu quả làm việc tại các đơn vị trực thuộc trƣờng Đại học Cần Thơ” của Ngô Mỹ Trân và 9 z Võ Minh Trí (2018), việc áp dụng lý thuyết QTTG trong sản xuất vào QTĐH đã giúp trƣờng Đại học Cần Thơ xác định đƣợc 10 loại lãng phí tồn tại và các giải pháp nhằm tiết kiệm và nâng cao hiệu quả làm việc tại trƣờng.3 Khoảng trống nghiên cứu Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nƣớc và trên thế giới đã chỉ ra rằng nghiên cứu QTĐH dƣới góc nhìn doanh nghiệp đặc biệt là áp dụng lý thuyết QTTG trong sản xuất vào QTĐH không phải là một điều mới đối với nƣớc ngoài. Tuy nhiên, ở Việt Nam, tác giả nhận thấy đây vẫn còn là một vấn đề khá mới và còn rất nhiều khoảng trống để tác giả triển khai nghiên cứu đề tài của mình. Cụ thể: Thứ nhất, các nghiên cứu chỉ hƣớng tới hai góc nhìn về chất lƣợng đầu ra của cơ sở đào tạo và chất lƣợng đầu vào của doanh nghiệp.
Hiện chƣa có nhiều nghiên cứu về QTĐH đƣợc nhìn dƣới góc độ quản trị doanh nghiệp. Thứ hai, chƣa có một nghiên cứu điển hình nào về trƣờng ĐHKT – ĐHQGHN về vấn đề QTĐH dƣới góc nhìn quản trị doanh nghiệp Thứ ba, giáo dục đại học trong quá trình hội nhập đang đƣợc chú trọng trong xây dựng và phát triển trở thành những cơ sở đào tạo uy tín và chất lƣợng cao. Tuy nhiên, hiện nay chƣa có nhiều nghiên cứu trong nƣớc về QTĐH theo một mô hình chuyên biệt và có tính ứng dụng cao, đặc biệt liên quan đến việc tiếp cận và ứng dụng lý thuyết QTTG và tƣ duy tinh gọn trong ngành công nghiệp sản xuất vào QTĐH. Thứ tư, việc tiếp cận lý thuyết QTTG và tƣ duy tinh gọn tại các trƣờng đại học Việt Nam vẫn còn khá mới mẻ nên không có những nghiên cứu chuyên sâu về phƣơng thức ứng dụng cũng nhƣ các nhân tố ảnh hƣởng đến việc ứng dụng.