phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận án được kết cấu thành 5 chương: 5 z Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản trị đại học theo tinh thần doanh nghiệp Chƣơng 2: Cở sở lý luận và thực tiễn về quản trị đại học theo tinh thần doanh nghiệp Chƣơng 3: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 4: Thực trạng quản trị đại học theo tinh thần doanh nghiệp của các trường đại học khối ngành kinh tế - kinh doanh trên địa bàn Hà Nội Chƣơng 5: Các giải pháp và kiến nghị thúc đẩy thực hiện quản trị đại học theo tinh thần doanh nghiệp tại các trường đại học khối ngành kinh tế - kinh doanh trên địa bàn Hà Nội 6 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN TRỊ ĐẠI HỌC THEO TINH THẦN DOANH NGHIỆP 1. Những nghiên cứu về quản trị đại học 1. Nghiên cứu về quan điểm quản trị đại học Nghiên cứu của Bleiklie, Ivar và Kogan, Maurice (2007) về “tổ chức và quản trị đại học (Organization and Governance of Universities)” đã phân tích những ý tưởng nổi bật về mô hình thực tế tổ chức của quản trị đại học đã thay đổi khỏi quan niệm cổ điển trong một vài thập kỷ qua về trường đại học như một nước cộng hòa của các học giả hướng tới ý tưởng trường đại học là một tổ chức với các bên liên quan. Trong nghiên cứu này, tác giả đã xem xét một số xu hướng đa quốc gia, thường được cho là có ảnh hưởng đến sự phát triển trên quy mô toàn cầu.
Từ đó, nghiên cứu trình bày một số ý tưởng về các quy trình thay đổi trong các trường đại học, các tổ chức học thuật và phân tích sự thay đổi có thể được thúc đẩy hoặc giới hạn bởi các đặc điểm của các quy trình đó. Nghiên cứu của Westerheijden .F (2018) về quản trị đại học ở Anh, Hà Lan và Nhật Bản: “tự chủ và quản trị chia sẻ sau cải cách về quản lý công mới (University Governance in the United Kingdom, the Netherlands and Japan: Autonomy and Shared Governance after New Public Management Reforms) đã so sánh và đối chiếu các cải cách, đổi mới trong quản trị của các hệ thống giáo dục đại học ở châu Âu (Vương quốc Anh và Hà Lan là hai ví dụ rất khác nhau) với Nhật Bản, nghiên cứu tập trung vào kết quả của cải cách quản trị cấp Nhà nước đối với quản trị chia sẻ trong các trường đại học. Nghiên cứu đưa ra một số so sánh có hệ thống dựa trên các bảng điểm tự chủ và áp dụng các khái niệm từ bộ cân bằng quản trị. Nghiên cứu xem xét cải cách quản trị công mới (NPM) ở ba nước, điều đó cho thấy các trường đại học ở Anh vẫn chủ yếu là tự trị, trong khi quản trị hỗn hợp sau NPM chiếm ưu thế ở Nhật Bản và Hà Lan, với mỗi quốc gia ảnh hưởng đến quyền tự chủ thể chế khác nhau.
Trong mọi trường hợp, quyền tự chủ thể chế tăng lên ở một số khía cạnh và giảm dần ở những khía cạnh khác. Nghiên cứu so sánh ngắn 7 z gọn được thực hiện cho bốn chiều (tổ chức, tài chính, nhân sự và giáo dục) và mỗi chỉ số cơ bản. Nghiên cứu của Sita Yubelina Sabandar và cộng sự (2018) về “việc thực hiện quản trị đại học tốt trong các trường đại học tư ở Makassar (Indonesia) (The Implementation of Good University Governance in the private Universities in Makassar)”. Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu ảnh hưởng của việc thực hiện quản trị đại học tốt đối với chất lượng giáo dục tại các trường đại học tư thục ở Makassar.
Dữ liệu được thu thập bằng cách xem xét tài liệu và nghiên cứu thực địa, trong đó các nhà nghiên cứu đã sử dụng các kỹ thuật phỏng vấn, quan sát, tài liệu và bảng câu hỏi cho 200 người trả lời tại 05 trường đại học ở Makassar. Nghiên cứu này cho thấy việc thực hiện quản trị đại học tốt có ảnh hưởng đáng kể và trực tiếp đến chất lượng giáo dục. Nghiên cứu của Joe L. Nghiên cứu đã đề cấp đến vai trò của phân tích nội bộ trong quản trị trường đại học.
Nghiên cứu kết luận phân tích nội bộ một mình nó không thể dẫn đến những kế hoạch vững chắc, những chính sách phù hợp, hay những quyết định đúng đắn cho nhà trường. Sự khôn ngoan, chính trực, và lòng can đảm của những người chia sẻ trách nhiệm quản trị là những nhân tố quyết định cho những kế hoạch vững chắc, những chính sách phù hợp, hay những quyết định đúng đắn. Tuy vậy, phân tích nội bộ có thể cung cấp những dữ liệu và thông tin đóng góp cho và đôi khi là cốt lõi để duy trì chất lượng của hoạt động quản trị trường đại học, một tổ chức tồn tại dựa trên nguyên tắc của lý trí, của sự khôn ngoan và sự thật. Nghiên cứu của Phạm Đức Chính và Nguyễn Minh Hiền (2012) phân tích những thất bại của GDĐH Việt Nam có nguyên nhân sâu xa từ quản trị đại học.
Chúng ta có thể chỉ ra ba hạn chế làm cho QTĐH ở Việt Nam không thể đạt được những cải cách mong muốn: Một là, do tình trạng lý luận về quản lý giáo dục đại học nói chung, và về các chủ đề này nói riêng đang chưa được quan tâm thấu đáo. Hai là, khi tăng quyền lực ở cấp trường đại học thì tất yếu phải giảm bớt quyền lực 8 z ở cấp bộ chủ quản, mà giảm bớt quyền lực thì bao giờ cũng rất khó khăn. Hơn nữa, nó còn làm giảm giá trị truyền thống về mối quan hệ giữa Nhà nước và trường đại học. Ba là, cơ chế quản trị ở các trường đại học của Việt Nam hiện nay, đặc biệt là cơ chế đảm bảo “trách nhiệm xã hội”, có thể nói là còn chưa có cơ sở pháp lý để đạt được các mục đích của chính sách phân quyền như vừa nói ở trên.
Nguyên nhân sâu xa của những hạn chế này xuất phát từ thực tế can thiệp của Nhà nước trong GDĐH ở các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Điều này đã làm các nhà quản trị đại học phân chia hệ thống đại học thành hai nhóm quản lý với những đặc điểm khác biệt là: “kiểm soát nhà nước” (state control) và “giám sát nhà nước” (state supervision) trong GDĐH. Như vậy, vấn đề trọng tâm của cải cách QTĐH ở Việt Nam là xây dựng được một cơ chế “tự chủ đại học”, cho phép các trường đại học được quyền quyết định về chương trình, về việc bổ nhiệm và quản lý nhân viên, giảng viên cũng như các thành phần nhân viên khác. Sự thiếu vắng cơ chế này, cùng sự chạy đua tăng thu nhập dưới chiêu bài đạt thành tích phổ cập hóa giáo dục đại học nằm trong số các nguyên nhân gốc rễ khiến cho đại học Việt Nam xuống cấp, và càng đi xa hơn so với tôn chỉ, mục đích của nó.
Phạm Thị Ly (2008) cho rằng Việt Nam là một quốc gia đang phát triển mà ngân sách chi cho giáo dục so với tương quan GDP rất cao, nhưng hiệu quả thì thấp, đặc biệt là trong GDĐH. Nghiên cứu này nêu vấn đề về đổi mới hệ thống quản trị đại học của Việt Nam là liệu có thể vận dụng những kinh nghiệm thành công trong QTĐH của Hoa Kỳ? Nếu không thì vì sao, và nếu có, thì với những thay đổi và điều chỉnh như thế nào? Lợi ích và cái giá phải trả cho những thay đổi ấy? Nghiên cứu cũng cho thấy điểm mạnh trong mô hình quản trị của hệ thống Hoa Kỳ là sự chia sẻ quyền lực và trách nhiệm giữa quản trị, quản lý, điều hành, cũng như đòi hỏi bắt buộc về sự minh bạch và giải trình trách nhiệm. Nghiên cứu cũng phân tích hiện trạng của các đại học Việt Nam, lý do vì sao những chính sách mới không luôn luôn thành công, đồng thời đề nghị một số điều chỉnh trong mô hình Hoa Kỳ để có thể áp dụng được ở Việt Nam. Nghiên cứu của Đào Thị Thu Giang và Trần Tú Uyên (2014) về “quản trị đại học tại Đài Loan và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” cho rằng cùng với Hồng 9 z Kông, Hàn Quốc, và Singapore.
Đài Loan từ lâu được biết đến là một trong bốn con rồng châu Á. Đài Loan có nền công nghiệp hiện đại, người dân có mức sống và thu nhập cao. Không chỉ phát triển về kinh tế, Đài Loan được coi là đất nước có những bước đi đột phá và thành công trong lĩnh vực giáo dục. Một trong những lý do của sự thành công đó chính là công tác QTĐH.
Nghiên cứu này tập trung nghiên cứu về quản trị đại học tại Đài Loan dưới các góc độ về quản trị nhân sự, quản trị chất lượng, quản trị tài chính, quản trị khoa học và đưa ra một số gợi ý nhằm hoàn thiện hơn công tác QTĐH tại Việt Nam hiện nay. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Mai Lan (2019) về “quản trị tài chính tại các trường đại học trực thuộc Bộ Công Thương trong điều kiện tự chủ” đã phân tích, đánh giá thực trạng quản trị tài chính tại 09 trường đại học công lập (ĐHCL) trực thuộc Bộ Công Thương thông qua việc sử dụng các dữ liệu thứ cấp (số liệu từ báo cáo tài chính) và dữ liệu sơ cấp (kết quả khảo sát tại các trường). Tác giả đã tổng hợp, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản trị tài chính của các trường đại học trực thuộc Bộ Công Thương trong giai đoạn 2013-2017 về các khía cạnh quản trị chi phí, tài sản, quản trị nguồn thu và kết quả tài chính. Bên cạnh những kết quả đạt được, luận án đã chỉ ra những tồn tại lớn trong quản trị tài chính tại các trường đó là: Việc chi tiêu chưa gắn với ưu tiên chiến lược của trường; khả năng mở rộng và quản trị nguồn thu của trường còn hạn chế; công tác quản trị chi phí còn hạn chế và chưa hiệu quả; công tác quản trị tài sản còn bất cập; và quản trị kết quả tài chính chưa hiệu quả.
Luận án cũng phân tích các nguyên nhân của những tồn tại trên, làm cơ sở đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản trị tài chính. Nghiên cứu về xu thế phát triển của quản trị đại học Lịch sử ra đời và phát triển của các trường đại học trên thế giới đã trải qua mấy thế kỷ và mối quan hệ giữa Nhà nước và các trường đại học cũng có những xu hướng thay đổi và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế, văn hóa - xã hội, và giáo dục.