Chương I của Luật Viên chức cũng quy định: “Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Nghĩa vụ của viên chức trong hoạt động nghề nghiệp tại Điều 17, Mục 2, Chương II bao gồm: (1) Thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao bảo đảm yêu cầu về thời gian và chất lượng. (2) Phối hợp tốt với đồng nghiệp trong thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ. (3) Chấp hành sự phân công công tác của người có thẩm quyền.
(4) Thường xuyên học tập nâng cao trình độ, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ. (5) Khi phục vụ nhân dân, viên chức phải tuân thủ các quy định sau: a) Có thái độ lịch sự, tôn trọng nhân dân; b) Có tinh thần hợp tác, tác phong khiêm tốn; c) Không hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà đối với nhân dân; d) Chấp hành các quy định về đạo đức nghề nghiệp. (6) Chịu trách nhiệm về việc thực hiện hoạt động nghề nghiệp. (7) Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Có thể phân loại nhóm viên chức thành 2 dạng: Nhóm thứ nhất là viên chức chuyên môn là những người thực hiện nhiệm vụ có tính chất chuyên môn, nghiệp vụ thuần túy theo chức vụ nghề nghiệp hay ngạch bậc chuyên môn được bổ nhiệm. Nhóm thứ hai là viên chức hành chính, nghiệp vụ, kĩ thuật là người làm công tác có tính chất hành chính, nghiệp vụ, kĩ thuật như công tác văn thư, lưu trữ, quản trị, thông tin tư liệu phục vụ cho viên chức quản lí và viên chức chuyên môn (thư kí, đánh máy, văn thư, kế toán, tài vụ, lễ tân, quản trị văn phòng,.), được gọi là viên chức hành chính (VCHC). Trong đó, viên chức quản lí được quy định tại Luật Viên chức, Điều 3, Chương I, là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lí có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lí. Trong nghiên cứu này, đối tượng được nghiên cứu, xem xét là nhóm viên chức hành chính không giữ chức vụ quản lí và không trực tiếp tham gia giảng dạy theo chuyên môn được đề cập ở trên, làm việc trong cơ sở giáo dục đại học.
Đội ngũ viên chức hành chính Đội ngũ là tập hợp gồm nhiều người có cùng chức năng hoặc nghề nghiệp tạo thành một lực lượng. Trong nghiên cứu “Thực trạng quản lí chất lượng đội ngũ cán bộ nghiệp vụ hành chính giáo dục tại Thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả Mỵ Giang Sơn đã chỉ rõ: “Đội ngũ viên chức hành chính là lực lượng trợ giúp cho hoạt động quản lí giáo dục, làm việc tại: các cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục; Phòng, ban của các phòng, sở giáo dục và đào tạo; Văn phòng các trường mầm non, trường phổ thông; Văn phòng (Khoa, Phòng/ban) các trường trung cấp, cao đẳng, đại học, học viện, viện nghiên cứu; Văn phòng các trung tâm đào tạo, bồi dưỡng, trung tâm văn hóa, nhà văn hóa; các cơ quan, tổ chức giáo dục khác”. Từ những cách hiểu nêu trên, có thể quan niệm: Đội ngũ viên chức hành chính là một tập hợp những người có chuyên môn, nghiệp vụ, kĩ thuật đặc thù theo ngành giáo dục được tổ chức thành một lực lượng cùng chung một nhiệm vụ là trợ giúp cho hoạt động quản lí nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tập hợp đó, tổ chức đó. Họ làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của pháp luật, thể chế xã hội.
Họlà một trong các nguồn lực quan trọng trong hoạt động quản lí của cán bộ quản lí giáo dục, thực hiện nhiệm vụ tham mưu, tư vấn hoạch định chính sách, chiến lược; thu thập, hệ thống hóa và phân tích dữ liệu, thông tin giúp cho việc ra quyết định quản lí; thực hiện các công việc sự vụ, hành chính. Phát triển đội ngũ viên chức hành chính 1. Phát triển Phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi theo chiều hướng tăng, từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp. Trong phép biện chứng duy vật, phát triển được cho là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật.
Theo tác giả Vũ Lan Hương (2017): Phát triển là quá trình vận động từ thấp (giản đơn) đến cao (phức tạp), mà nét đặc trưng chủ yếu là cái cũ mất đi và cái mới ra đời. Sự phát triển của các hệ Luan van 16 thống vô cơ, của thế giới hữu sinh, của xã hội loài người, của nhận thức đều phục tùng những quy luật phổ biến của phép biện chứng. Mọi quá trình phát triển đều có sự khởi đầu và sự kết thúc. Phát triển là một quá trình nội tại: bước chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm tàng những khuynh hướng dẫn tới cái cao, còn cái cao là cái thấp đã phát triển.
Trong đó, khái niệm “phát triển” và khái niệm “vận động” có sự khác nhau: Vận động là sự biến đổi nói chung, chưa nói lên được khuynh hướng cụ thể: đi lên hay đi xuống, tiến bộ hay lạc hậu, còn phát triển là sự biến đổi về chất theo hướng hoàn thiện của sự vật. Phát triển là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật; là quá trình thống nhất giữa phủ định những nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật (Tô Văn Sông, 2009). Từ những khái niệm trên, có thể hiểu phát triển là quá trình đi từ thấp lên cao, loại bỏ các yếu tố tiêu cực, kế thừa và nâng cao những yếu tố tích cực để hình thành một hình thái mới của sự vật. Phát triển đội ngũ viên chức hành chính Theo Từ điển Giáo dục học (Bùi Hiền, 2001), phát triển nguồn nhân lực là “quá trình cung cấp những nguồn nhân lực cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển của một ngành sản xuất, kinh doanh, một tổ chức, một dân tộc, một đất nước”.
Phát triển nguồn nhân lực là sự thay đổi, cải thiện liên tục theo hướng tích cực, hoàn thiện về số lượng và chất lượng thông qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng và tái đào tạo, chăm sóc sức khỏe về thể chất và tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng của người lao động thông qua việc tuyển dụng, sử dụng, tạo điều kiện về môi trường làm việc (chính sách, phương tiện lao động.), môi trường văn hóa, xã hội kích thích động cơ, thái độ làm việc của người lao động, để họ nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ được giao. Trong lĩnh vực giáo dục, phát triển nguồn nhân lực chính là sự phát triển đội ngũ nhân lực sư phạm (đội ngũ cán bộ quản lí, đội ngũ giáo viên, đội ngũ viên chức hành chính.) để đảm bảo về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng, đồng bộ về cơ Luan van 17 cấu. nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác giáo dục. Trong đó, phát triển đội ngũ viên chức hành chính (ĐNVCHC) là làm cho ĐNVCHC đạt đến sự chuẩn hóa, hiện đại hóa; thực hiện các chế độ, chính sách tốt nhất đối với viên chức; tạo môi trường làm việc thuận lợi, đảm bảo tính hợp lí, tính xã hội hóa và tính đồng thuận trong đội ngũ sư phạm của nhà trường; tổ chức hoạt động hành chính một cách hợp lí, đồng bộ với các yếu tố về số lượng, cơ cấu đội ngũ; tăng cường dân chủ hóa trong các hoạt động để giúp viên chức tự phát triển bản thân.
Phát triển đội ngũ viên chức hành chính đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục 1. Đổi mới giáo dục Theo Đại từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý, 1998) thì “đổi mới là thay đổi hoặc làm cho thay đổi tốt hơn, tiến bộ hơn so với trước”. Điều này cho thấy nội hàm của khái niệm “đổi mới” nhằm chỉ những hoạt động của con người làm thay đổi những cái cũ, lạc hậu bằng cái tiến bộ hơn. Ở các quốc gia trong khu vực Châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, “đổi mới” còn được gọi là “duy tân” hoặc “canh tân”.
Trong tiếng Anh dùng từ “renovation” hay “innovation”, tiếng Pháp dùng từ “rénovation” đều có nghĩa là “đổi mới”. Ở mỗi quốc gia, tùy vào thời điểm lịch sử, sự nghiệp đổi mới có nội dung, phương pháp và kết quả khác nhau nhưng đồng nhất với nhau về mục tiêu “cải biến cái cũ thành cái mới tiến bộ hơn”. “Đổi mới” và “cải cách” là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Theo “Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông” (Phan Ngọc Liên, 2007), “cải cách là đổi mới cho tiến bộ hơn, cho phù hợp hơn với sự tiến bộ chung của xã hội mà không đụng tới nền tảng của chế độ hiện hành”.
Khái niệm này nhấn mạnh về mục tiêu, kết quả của “cải cách” là làm cho xã hội càng tiến bộ hơn nhưng bản chất vẫn không thay đổi. Khác với “đổi mới”, “cải cách” sẽ tạo ra những thay đổi mang tính quy mô rộng lớn, có tiêu chí rõ ràng và triệt để hơn. Điểm giống nhau cơ bản giữa “cải cách” và “đổi mới” là có thể kiểm soát được. Tuy nhiên, “đổi mới” mang ý nghĩa sự vận động tất yếu, khách quan của sự vật, hiện tượng, còn “cải cách” là sự vận động do chủ thể tiến hành.
Sự khác biệt ở đây là yếu tố chủ động của chủ thể tiến hành sự “cải cách”. Luan van 18 Theo tác giả Vũ Lan Hương: “Đổi mới (Innovation) là thay cái cũ bằng cái mới; làm nảy sinh sự vật mới; còn được hiểu là cách tân; là sự thay đổi về bản chất sự vật” (Vũ Lan Hương,2017). Đổi mới ở đây mang ý nghĩa tất yếu khách quan. Mọi sự vật hiện tượng, cá nhân, cộng đồng và quốc gia nào muốn tồn tại và thích nghi với môi trường sống thì phải đổi mới.
Đổi mới như là một công việc diễn ra thường nhật, như là bản năng sinh tồn của cá nhân, tổ chức để thích nghi với sự thay đổi của môi trường sống.