Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm có 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận về quản trị hoạt động tuyển sinh tại trƣờng đại học Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn Chƣơng 3: Thực trạng quản trị hoạt động tuyển sinh tại Khoa Quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Chƣơng 4: Giải pháp quản trị hoạt động tuyển sinh tại Khoa Quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. 3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ HOẠT ĐỘNG TUYỂN SINH TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Ngoài nước Kỉ yếu Đại học Humboldt 200 năm (1810-2010) “Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam” là một công trình nghiên cứu và lí luận về giáo dục đại học của các học giả trong và ngoài nƣớc. Với sự đóng góp của nhiều nhà khoa học tên tuổi quen thuộc trong nƣớc (nhƣ Hoàng Tụy, Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Xuân Xanh, Bùi Văn Nam Sơn, Lâm Quang Thiệt, Ngô Việt Trung, v.), ngoài nƣớc (cố giáo sƣ Bùi Trọng Liễu, Hà Dƣơng Tƣờng, Cao Huy Thuần, Phạm Xuân Yêm, Nguyễn Quang Riệu, Vũ Quang Việt, Trần Hữu Dũng, Trần Nam Bình, v.), và một số nhà giáo dục nổi tiếng của Mỹ (nhƣ P.
Có thể nói đây là một công trình đồ sộ, với hơn 800 trang, thể hiện tâm huyết của các giáo sƣ và chuyên gia trong và ngoài nƣớc quan tâm đến nền giáo dục đại học nƣớc nhà. Kỉ yếu gồm 57 bài viết theo 6 chủ đề, từ lịch sử phát triển giáo dục đại học, đến hệ thống đại học của Mỹ, Canada, Úc, Nhật, Trung Quốc, Việt Nam, và những định hƣớng cho giáo dục đại học trong thế kỉ 21. Những bài viết trong kỉ yếu cung cấp cho chúng ta một lƣợng thông tin đồ sộ về hệ thống giáo dục của các nƣớc trong vùng và vòng quanh thế giới. Cuốn kỉ yếu còn có những so sánh bằng dữ liệu cụ thể giữa hai hệ thống giáo dục đại học Việt Nam và Thái Lan, với những kết quả bất ngờ.
Chẳng hạn nhƣ trong số 38,217 giảng viên đại học ở Việt Nam, khoảng 15% có bằng tiến sĩ; còn ở Thái Lan, trong số 59,562 giảng viên, số có bằng tiến sĩ là 24%. So sánh này cho thấy con đƣờng đại học Việt Nam có tên trong danh sách "Top 200" còn rất xa vời. Những bài viết chỉ ra những bất cập trong hệ thống giáo dục đại học, cùng với những đề nghị cụ thể để nâng cao chất lƣợng đào tạo với những tiêu chí cụ thể làm cho cuốn kỉ yếu không chỉ là một công trình lí luận mà còn là một cẩm nang về so sánh giáo dục đại học quốc tế. 4 z Trƣờng Đại học Humboldt là một trƣờng công đƣợc nhà nƣớc Phổ cấp ngân sách hoạt động.
Giảng viên là những công chức nhà nƣớc và có uy tín xã hội cao, cũng nhƣ có biên chế an toàn. Ý tƣởng của Humboldt về Lernfreiheit (tự do học tập) và Lehrfreiheit (tự do giảng dạy) đã giúp cho mức độ tự chủ và tự do học thuật rất cao trong nhà trƣờng đƣợc gìn giữ nhƣ một báu vật thiêng liêng. Nhà nƣớc Phổ rất ủng hộ mô hình trƣờng đại học mới này vì nó hứa hẹn hỗ trợ cho sự phát triển của quốc gia và giúp cho nƣớc Phổ, sau này là nƣớc Đức đạt đƣợc sức mạnh và tầm ảnh hƣởng quốc tế. Trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam hiện nay, cuốn kỉ yếu Humboldt có ý nghĩa thiết thực cho giới lãnh đạo đại học, các nhà quản lí giáo dục, các nhà nghiên cứu về giáo dục đại học, và tất cả những ai trong công chúng quan tâm đến giáo dục đại học nƣớc nhà giúp nâng cao vị thế của khoa học Việt Nam trên trƣờng quốc tế, nếu giáo dục đại học Việt Nam dựa vào một triết lí giáo dục tốt và nếu đại học có đƣợc tự do học thuật, tự do giảng dạy, và tự do học tập để tìm sự thật khoa học.
Theo Philip Altbach (2011), “Quá khứ, hiện tại và tƣơng lai của trƣờng đại học nghiên cứu”, điều nổi bật là hai nƣớc nhiệt tình nhất trong việc vận dụng mô hình Humboldt là Nhật Bản và Hoa Kỳ; cả hai, đặc biệt là trong thế kỷ 19 và 20, đều gắn bó với sự phát triển của quốc gia và đều coi giáo dục đại học nhƣ là nhân tố chính đóng góp cho sự phát triển ấy. Sự khác nhau của các trƣờng đại học nghiên cứu của Mỹ và Đức đặc biệt có ý nghĩa. Vào cuối thế kỷ 19, theo Luật Hỗ trợ Đất, các trƣờng đại học Hoa Kỳ bắt đầu nhấn mạnh hoạt động nghiên cứu, tập trung vào khoa học khai thác sản xuất điện cho nông nghiệp và cho nền công nghiệp đang thành hình. Các trƣờng đại học nghiên cứu Hoa Kỳ khác với mô hình của Đức về nhiều mặt quan trọng: (a) nhấn mạnh việc phục vụ xã hội nhƣ là một giá trị trọng yếu; (b) tổ chức của nghề giảng viên có tính dân chủ hơn, dùng các khoa/ tổ bộ môn dựa trên chuyên ngành hơn là dùng thứ bậc của hệ thống chủ tịch; và (c) hệ thống quản trị và quản lý của Hoa Kỳ có sự tham gia của giảng viên nhiều hơn và có tính chất quản lý hơn (trƣởng khoa, trƣởng đơn vị và hiệu trƣởng đƣợc hội đồng quản trị bổ nhiệm chứ không phải đƣợc đồng nghiệp bầu chọn).
5 z Các trƣờng đại học nghiên cứu Hoa Kỳ trở thành mô hình toàn cầu nổi bật vào khoảng giữa thế kỷ 20. Thông qua kết hợp một ngân sách to lớn cho nghiên cứu - một phần do Bộ Quốc Phòng cung cấp và liên quan tới kỹ thuật quân sự trong thời Chiến tranh Lạnh - với sự hỗ trợ mạnh mẽ của nhà nƣớc, hệ thống quản trị hiệu quả, sự sáng tạo của một hệ thống đào tạo đƣợc phân tầng ở hầu hết các bang, một hệ thống coi đại học nghiên cứu là ở trên đỉnh, và một bộ phận đào tạo phi lợi nhuận đầy sức sống mạnh mẽ, các trƣờng đại học nghiên cứu Hoa Kỳ đã trở thành “tiêu chuẩn vàng” của thế giới. Hệ thống quản trị đại học hiệu quả là một vấn đề đƣợc rất nhiều trƣờng đại học trên thế giới quan tâm. Trong một nghiên cứu của của Rand Corporation (2004) mang tên “Organizational Improvement &Accountability & Lesson for Education from other sectors” đã kết luận rằng, triết lý quản trị tinh gọn và những công cụ phù hợp của nó sẽ cung cấp cho các nhà giáo dục một mô hình quản trị và cải tiến mạnh mẽ giúp cho các cơ sở giáo dục đối mặt với những thách thức cho ngành giáo dục trong thế kỷ 21.
Mặc dù ban đầu lý thuyết quản trị tinh gọn đƣợc áp dụng trong sản suất kinh doanh, quản trị tinh gọn ngày càng đƣợc sử dụng nhiều ở các tổ chức khác nhƣ quản lý nhà nƣớc, chăm sóc sức khỏe và giáo dục đại học. Quản trị tinh gọn đƣợc áp dụng vào các tổ chức quản lý nhà nƣớc và chăm sóc sức khỏe trƣớc khi áp dụng vào các trƣờng đại học, tuy nhiên việc áp dụng quản trị tinh gọn trong những trƣờng đại học trên thế giới lại dễ đƣợc chấp nhận và nhiều trƣờng đại học đã thành công (Radnor & Bucci, 2011). Balzer (2010) với cuốn sách “Quản trị tinh gọn trong giáo dục đại học” đã cung cấp những kiến thức và công cụ cần thiết để để áp dụng phƣơng pháp quản trị tinh gọn trong doanh nghiệp vào lĩnh vực giáo dục đại học. Việc áp dụng quản trị tinh gọn trong trƣờng đại học giúp làm gia tăng giá trị và kết quả của mọi quá trình thực hiện trong trƣờng đại học.
Ông đã trình bày rất nhiều bằng chứng thực tế đã ứng dụng thành công các nguyên lý quản trị tinh gọn vào các trƣờng đại học lớn trên thế giới và cung cấp các phƣơng pháp đã đƣợc chứng minh để loại bỏ các hoạt động không mang lại giá trị cho trƣờng đại học. 6 z Xuất phát từ thực tế của việc bị cắt giảm chi phí cho giáo dục, mức độ hài lòng thấp của nhân viên, tiến trình quản lý lạc hậu và năng suất thấp, một số trƣờng đại học ở Mỹ đã áp dụng các nguyên lý quản trị tinh gọn nhƣ đại học Trung tâm Oklahoma, đại học Iowa, đại học Scranton… Các trƣờng đại học và cao đẳng đã nhận đƣợc rất nhiều lợi ích từ các dự án quản trị tinh gọn khi áp dụng trong nhiều mảng dịch vụ đại học, trong đó có hoạt động tuyển sinh sinh viên với tất cả các bƣớc trong quá trình đều đƣợc đơn giản hóa và tập trung vào nhu cầu sinh viên (Balzer, 2010; Langer, 2011).2 Trong nước Nhóm đối thoại giáo dục Việt Nam (VED) gồm các nhà khoa học trẻ và tâm huyết với ngành giáo dục do giáo sƣ Ngô Bảo Châu chủ trì đã đƣa ra hƣớng cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam theo mô hình Đại học các nƣớc phát triển (phƣơng tây), trong đó nhấn mạnh động lực cải tổ là tự chủ đại học. Nhóm cũng nêu rõ giáo dục đại học là một quá trình lâu dài và liên tục; giáo dục cần đƣợc cải tổ từ nguyên lí chứ không phải thay đổi một vài chi tiết. Trong cuốn sách “Kẻ trăn trở” , tác giả Lƣơng Hoài Nam - vốn là một doanh nhân - chia sẻ quan điểm về nhiều bất cập xã hội, nhất là vấn đề về cải cách giáo dục.
Cuốn sách tập hợp những bài viết hay của Lƣơng Hoài Nam đƣợc đăng tải trên một số trang báo trong nƣớc, hoặc trên trang cá nhân của tác giả và các bài ông trả lời phỏng vấn của báo chí. Các bài báo của Lƣơng Hoài Nam thuộc nhiều chủ đề khác nhau, nhiều hơn cả là bàn về cải cách giáo dục. Chiếm tới một nửa dung lƣợng cuốn sách là những suy tƣ về nền giáo dục nƣớc nhà. Ông cho rằng giáo dục có vai trò định mệnh với sự phát triển quốc gia: "Nếu chúng ta muốn thay đổi cái định mệnh nghìn năm, không có cách nào khác là bắt đầu từ một nền giáo dục mới để tạo dựng những thế hệ ngƣời Việt mới".
Từ đó, Lƣơng Hoài Nam cho rằng cần phải đổi mới toàn diện giáo dục, không chắp vá. Ông đề xuất Việt Nam nên cân nhắc lựa chọn mô hình giáo dục của Anh để sớm có thành tựu trong tƣơng lai. Giáo sƣ Ngô Bảo Châu nhận xét: "Với tƣ duy mạch lạc của một doanh nhân có nhiều kinh nghiệm, những bài viết của anh Nam luôn dựa trên những bảng biểu đối sánh, 7 z những con số cụ thể.