Chương 1: Những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế về chuyển giao công nghệ -4- z Chương 2: Thực trạng hoạt động chuyển giao công nghệ ở Việt Nam trong thời gian qua Chương 3: Quan điểm định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ ở Việt Nam trong thời gian tới CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 1. Lý luận chung về chuyển giao công nghệ 1. Công nghệ Công nghệ là một yếu tố tạo ra quá trình sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ. Nó liên kết các yếu tố khác của quá trình sản xuất kinh doanh theo một lôgíc về mặt kỹ thuật.
Thiếu yếu tố này, không thể có bất kỳ quá trình sản xuất – kinh doanh nào. Ngay trong quá trình cung cấp dịch vụ thuộc các lĩnh vực phi vật chất, thậm chí trong các hoạt động công cộng, người ta cũng nói tới công nghệ – công nghệ triển khai, cung cấp các dịch vụ và tiến hành các hoạt động. Công nghệ được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, dựa trên những căn cứ khác nhau, những cách tiếp cận khác nhau. Theo nghĩa hẹp ban đầu, công nghệ chỉ dùng trong sản xuất và được hiểu là “phương pháp công nghệ”, tức là những phương pháp sản xuất sản phẩm, được mô tả qua những quy trình được trình bày dưới các hình thức bản vẽ, sơ đồ, biểu, bảng.
Một khái niệm khác cũng được dùng trong mối quan hệ với công nghệ là khái niệm kỹ thuật – bao gồm toàn bộ các phương tiện kỹ thuật như máy móc, thiết bị, dụng cụ sản xuất… phục vụ cho sản xuất. Như vậy, khái niệm công nghệ hiểu theo nghĩa hẹp này được định nghĩa hoàn toàn độc lập với khái niệm kỹ thuật (theo nghĩa là các phương tiện kỹ thuật). Tuy rằng các phương pháp này cũng luôn được gắn với những thiết bị, công cụ nhất định, thậm chí có cả những thiết bị đặc trưng gắn với từng chuyển giao công nghệ, nhưng chúng thường không được coi là bộ phận hợp thành của công nghệ. Về sau, khái niệm công nghệ được sử dụng trong cả lĩnh vực cung cấp hàng hóa, dịch vụ và gần đây cả trong quản lý.
-5- z Cùng với sự phát triển của quá trình chuyển giao công nghệ, khái niệm công nghệ đã được mở rộng: Công nghệ là tập hợp của tất cả các phương pháp sản xuất, cung cấp sản phẩm và dịch vụ cũng như những phương tiện kỹ thuật cần thiết để thực hiện phương pháp đó. Công nghệ không chỉ bị giới hạn trong quá trình sản xuất, mà bao gồm cả những hoạt động nằm ngoài quá trình sản xuất trực tiếp (trong các quá trình chuẩn bị sản xuất và trong phân phối, lưu thông hàng hóa…). Với định nghĩa này, cả hai khái niệm “ công nghệ ” và “kỹ thuật” theo nghĩa hẹp đã được liên kết lại với nhau. Người ta xem phương pháp và quy trình công nghệ là yếu tố “phần mềm” của công nghệ, còn thiết bị, máy móc và các công cụ sản xuất là “phần cứng” của công nghệ.
Từ sau 1980, đặc biệt từ sau thập kỷ 90, khái niệm công nghệ được mở rộng hơn. Nó được định nghĩa như tổng thể của các phương pháp, quy trình, máy móc, thiết bị cần dùng để sản xuất sản phẩm và cung cấp dịch vụ, các kiến thức, hiểu biết, kỹ năng, thông tin cũng như các phương thức tổ chức mà con người cần áp dụng để sử dụng những phương pháp, phương tiện đó. Theo định nghĩa này, công nghệ được chia thành 4 yếu tố: Phần cứng (các phương tiện kỹ thuật như máy móc, thiết bị, công cụ sản xuất…); phần mềm (các phương pháp, quy trình sản xuất và cung cấp sản phẩm, dịch vụ); phần tổ chức (kết cấu hệ thống sản xuất và quản lý sản xuất, cơ chế vận hành của hệ thống đó); và phần con người (kể cả các kỹ năng, kỹ xảo, kiến thức, thông tin mà người lao động và cán bộ quản lý các cấp cần có để sử dụng được công nghệ). Gần đây, một số tác giả còn coi công nghệ phải bao gồm cả năng lực tiềm tàng của tổ chức sản xuất – kinh doanh và dịch vụ trong việc sản xuất và cung cấp sản phẩm/dịch vụ cho xã hội.
“ Công nghệ là tổng hợp những năng lực nội tại, cở sở vật chất, kỹ năng, hiểu biết và tổ chức cần thiết để có thể tạo ra được những sản phẩm hoặc dịch vụ có ích cho xã hội ”. Công nghệ là một khái niệm động, thay đổi cùng với sự phát triển của tiến bộ khoa học – công nghệ, điều kiện kinh doanh và yêu cầu của quản lý. Hiện nó đã bao hàm một nội dung rất rộng và sau này có thể được tiếp tục mở rộng. -6- z Công nghệ là một hàng hóa được mua bán trên thị trường công nghệ.
Thị trường công nghệ là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi công nghệ. Việc mua bán công nghệ thông qua con đường đầu tư nước ngoài là một trong những kênh phổ biến. Bên cạnh đó còn có những kênh khác như tiến hành mua bán trực tiếp giữa các công ty với nhau, hoặc có thể phổ biến công nghệ không thông qua con đường thương mại. Để cho việc chuyển giao công nghệ được hiệu quả cần nắm được thuộc tính cơ bản của công nghệ.
Các thuộc tính này quy định và ảnh hưởng trực tiếp tới việc mua, bán, trao đổi và sử dụng công nghệ. Công nghệ có những thuộc tính sau đây: Một là, công nghệ có tính hệ thống: Điều này có nghĩa là không thể đánh giá công nghệ thông qua các thành phần riêng lẻ. Ví như mua được máy móc hiện đại không có nghĩa là có được công nghệ hiện đại để sản xuất sản phẩm mong muốn. Vì thế, các yếu tố cấu thành công nghệ có mối quan hệ hữu cơ và đồng bộ để tạo ra sự gắn kết trong hệ thống.
Từng yếu tố cũng không phải là phép tính cộng giản đơn các thành phần của nó mà là các yếu tố cấu thành của hệ thống, với các mối tương quan chặt chẽ về không gian và thời gian, trình tự và điều kiện vận hành. Chỉ khi công nghệ được đổi mới, tức là ít nhất có một giải pháp nào đó được thay thế bằng một giải pháp tốt hơn, khiến toàn bộ hệ thống trở nên tiến bộ hơn sẽ đưa tới kết quả cao hơn, thể hiện ở quy mô sản xuất, chất lượng sản phẩm và chi phí sản xuất. Hai là, công nghệ có tính sinh thể: Đó là, cũng như các hàng hóa khác, công nghệ cũng có tính chu kỳ sống (ra đời, tăng trưởng, chiếm lĩnh thị trường, bão hòa, lỗi thời, tiêu vong) và chịu sự chi phối của phương án chiến lược sản phẩm truyền thống, nên việc các bên nước ngoài chuyển giao các công nghệ lỗi thời, sắp bị thay thế vào một thị trường mới (như ở Việt Nam) cũng không nằm ngoài quy luật. Tuy nhiên, khác với các hàng hóa khác, công nghệ chỉ có thể tồn tại và phát triển như một cơ thể sống, tức là phải được cung cấp các yếu tố đầu vào, trong môi trường thuận lợi, thích nghi và phải được bảo dưỡng, duy trì và hoàn thiện.
Không nên xem công nghệ như một sản phẩm “chết” vì như vậy nó sẽ trở thành một gánh nặng cho người sử dụng. -7- z Ba là, công nghệ có tính đặc thù về mục tiêu và địa điểm. Thật vậy, tuy công nghệ là một khái niệm rất rộng và đụng chạm đến nhiều khía cạnh kỹ thuật, kinh tế, tổ chức và xã hội, nhưng nó lại giải quyết các mục tiêu cụ thể. Công nghệ nào thì sản phẩm ấy và mỗi công nghệ cho phép đạt được một loại sản phẩm nhất định, với số lượng, chất lượng và một lượng vật tư tiêu hao nhất định.
Mặt khác, mỗi công nghệ chỉ thực sự vận hành tốt nếu có một môi trường thích nghi và thuận lợi. Vì vậy, một công nghệ thực sự phù hợp với quốc gia này lại không phát huy tác dụng ở quốc gia kia, vì khi thay đổi địa điểm thì các yếu tố đầu vào và môi trường cũng thay đổi. Điều này cho thấy, chuyển giao công nghệ không chỉ đơn giản là dịch chuyển công nghệ từ vị trí địa lý này sang vị trí đại lý khác mà là cả một quá trình cải tiến, sửa đổi, thích nghi hóa cho phù hợp với các điều kiện của môi trường mới. Từ đặc thù này của công nghệ mà xuất hiện một khái niệm mới được nhiều người nhắc đến là “công nghệ thích hợp”.
Đó là sự phù hợp của công nghệ với các mục tiêu kinh tế - xã hội, các điều kiện về lao động, trình độ quản lý, tài nguyên thiên nhiên và hạ tầng kỹ thuật. Bốn là, công nghệ có tính thông tin. Do công nghệ là một hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật chế biến vật chất và thông tin nên bản thân công nghệ có tính thông tin. Thông tin là một loại hàng hóa rất đặc biệt, cho nên đánh giá, định giá, xử lý, xác định quyền sở hữu và bảo vệ nó là hết sức phức tạp.
Nó đòi hỏi sự can thiệp và bảo hộ không chỉ ở phạm vi quốc gia mà còn cả phạm vi quốc tế. Chuyển giao công nghệ a) Định nghĩa Chuyển giao công nghệ là loại hoạt động thực tiễn đã xuất hiện từ khá lâu trong lĩnh vực ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ. Tuy nhiên, chỉ từ những năm 70 của thế kỷ XX trở lại đây việc chuyển giao công nghệ và sử dụng hiệu quả công nghệ được chuyển giao mới có ảnh hưởng quyết định đến sự thịnh vượng, tốc độ và hiệu quả phát triển kinh tế – xã hội cũng như chất lượng cuộc sống của nhiều nước trên thế giới. Trước đây, chuyển giao công nghệ xảy ra như là kết quả của các hoạt động nhằm chống chọi với thiên nhiên để sinh tồn, việc khai thác các nguồn -8- z lợi từ tự nhiên được tiến hành một cách trực tiếp, rồi phát triển lên thành quy mô giữa các lãnh thổ, các quốc gia và giao lưu với nhau bởi quan hệ chính trị, kinh tế, thương mại, nhưng chuyển giao công nghệ chỉ là các hệ quả của quá trình đó, được thực hiện một cách ngẫu nhiên và không được vật chất, tiền tệ hóa dưới hình thức giao dịch đặc biệt.