đặt vấn đề về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ với tƣ cách là một đối tƣợng chính sách nghiên cứu riêng rẽ, bộ phận, có nghiên cứu chƣa đề xuất đƣợc các biện pháp cụ thể; hoặc các việc nghiên cứu chính sách chƣa tiếp cận từ phía nhà hoạch định, soạn thảo chính sách qua các dự thảo văn bản quy định nội dung chính sách; đặc biệt chƣa có công trình nghiên cứu cụ thể nào xem xét chính sách này trong mối quan hệ tổng thể với các chính sách khác theo góc độ của chuyên ngành quản lý kinh tế. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn có những mục đích nghiên cứu sau đây: (i) tập hợp và xem xét nhóm chính sách hỗ trợ ĐMCN theo những tiêu chí đƣợc xây dựng; (ii) phân tích thực trạng ĐMCN cho DNNVV, đánh giá những hạn chế, bất cập của chính sách hỗ trợ ĐMCN; (iii) kiến nghị điều chỉnh, hoàn thiện chính sách ĐMCN cho DNNVV. Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây: - Thứ nhất, tìm hiểu, nghiên cứu các đề tài công trình nghiên cứu liên quan tới chính sách hỗ trợ ĐMCN cho doanh nghiệp. - Thứ hai, hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách hỗ trợ ĐMCN cho DNNVV.
Rút ra những bài học từ kinh nghiệm quốc tế cho Việt Nam. - Thứ ba, phân tích thực trạng ĐMCN của các DNNVV, từ đó chỉ ra những thành tựu, những nhƣợc điểm và nguyên nhân hạn chế hoạt động ĐMCN của DNNVV. Đánh giá các chính sách hỗ trợ ĐMCN. - Thứ tư, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách hỗ trợ ĐMCN cho DNNVV.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1 Về đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các chính sách hỗ trợ ĐMCN và hoạt động ĐMCN của DNNVV.2 Về phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của luận văn là toàn bộ các DNNVV trên lãnh thổ Việt Nam và những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Phƣơng pháp nghiên cứu Tập hợp các chính sách hỗ trợ DNNVV nói riêng đang có hiệu lực thi hành; xem xét, đánh giá các chính sách theo phạm vi riêng lẻ và tổng thể, áp dụng các phƣơng pháp so sánh và đối chiếu, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn; phân tích chính sách. Luận văn thu thập, phân loại các tài liệu đã đƣợc công bố qua các công trình nghiên cứu trong nƣớc, ngoài nƣớc liên quan tới hoạt động ĐMCN của DNNVV và chính sách hỗ trợ của Nhà nƣớc hỗ trợ doanh nghiệp ĐMCN; tập hợp, phân loại các chính sách qua các văn bản quy phạm pháp luật đã đƣợc ban hành nhƣ: Luật Khoa học và công nghệ (2013), Luật Chuyển giao công nghệ (2006), Luật Công nghệ cao (2008), Luật Ngân sách nhà nƣớc, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và các Nghị định, Quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ, Thông tƣ của Bộ trƣởng liên quan tới hoạt động ĐMCN. Nguồn thông tin, dữ liệu thứ cấp do chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ có tính chất liên ngành, đƣợc nhiều cơ quan thực thi chính sách chủ trì, phối hợp thực hiện vì vậy luân văn cũng khai thác và sử dụng các số liệu đƣợc công khai trực tuyến trên Internet của các cơ quan khác nhau nhƣ: Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê và Cục Phát triển doanh nghiệp.
Đồng thời tham khảo các nguồn số liệu từ các khảo sát, báo cáo về doanh nghiệp nhỏ và vừa, bài nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế, thông tin trên Internet cũng nhƣ chọn lọc, sử dụng các quan điểm đánh giá, 6 z nhận định của các chuyên gia, các nhà hoạch định chính sách về ĐMCN, các tổ chức nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về chính sách hỗ trợ ĐMCN đối với DNNVV. Trên cơ sở xác định những nhóm chính sách hỗ trợ DNNVV đổi mới công nghệ ở Việt Nam, luận văn nghiên cứu theo chỉ dẫn, lộ trình nhƣ sau: (i) hệ thống hóa, phân loại chính sách hỗ trợ DNNVV đổi mới công nghệ; (ii) xem xét những kết quả của chính sách đối với DNNVV từ đó phân tích những tác động của chính sách; (iii) so sánh và đánh giá mục tiêu của chính sách đối với DNNVV; đồng thời đánh giá đƣợc một phần thực trạng trình độ công nghệ, ĐMCN của DNNVV và thực trạng tác động của chính sách hỗ trợ DNNVV đổi mới công nghệ. Những đóng góp của luận văn: Thứ nhất, Luận văn đã hệ thống, làm rõ khái niệm đổi mới công nghệ và chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ. Thứ hai, luận văn đã đánh giá tổng hợp các chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ kết quả đạt đƣợc, ƣu điểm, hạn chế và nguyên nhân và tác động của chính sách đến hoạt động đổi mới công nghệ của DNNVV.
Thứ ba, luận văn đã đề xuất 4 giải pháp: (i) tăng cƣờng hiệu quả phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phƣơng trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ ĐMCN; (ii) Giải pháp kinh tế; (iii) Giải pháp truyền thông, nâng cao nhận thức; (iv) Giải pháp về phía DNNVV. Kết cấu của luận văn Luận văn bao gồm 3 Chƣơng, kết cấu tuần tự từ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và trình bày giải pháp. Chƣơng 1 trình bày cơ sở lý luận về chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho DNNVV, trong đó làm rõ các khái niệm về công nghệ, đổi mới công nghệ, vai trò đối với sự phát triển kinh tế xã hội cũng nhƣ tìm hiểu các yếu tố cơ bản ảnh hƣởng đến quá trình đổi mới công nghệ của các DNNVV. Chƣơng 1 cũng nêu các khái niệm về chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ, nội dung và mục tiêu của chính sách hỗ trợ ĐMCN.
Trong Chƣơng 1, một số 7 z tiêu chí cơ bản khi xem xét đánh giá chính sách và kinh nghiệm quốc tế cũng đã đƣợc trình bày khái quát. Chƣơng 2, cơ bản trình bày về thực trạng và đánh giá thực trạng của chính sách hỗ trợ ĐMCN đối với DNNVV ở Việt Nam. Trong đó điểm lại những kết quả của chính sách hỗ trợ DNNVV đổi mới công nghệ, đánh giá những hạn chế, bất cập trong quá trình đổi mới công nghệ và chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế. Chƣơng 3 trình bày khái quát về bối cảnh, cơ hội và thách thức đối với DNNVV đổi mới công nghệ trong giai đoạn hiện nay, đồng thời với kinh nghiệm quốc tế và nguyên nhân đã đƣợc nêu trong Chƣơng 1 và Chƣơng 2, một số giải pháp đã đƣợc xác định bao gồm (i) tạo động lực về kinh tế đối với DNNVV; (ii) phát triển thị trƣờng khoa học và công nghệ; (iii) tăng cƣờng hiệu quả phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phƣơng trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ ĐMCN; (iv) đẩy mạnh truyền thông, nâng cao nhận thức; và (v) những nhiệm vụ đề xuất với hiệp hội DNNVV.
8 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Công nghệ và đổi mới công nghệ 1.1 Khái niệm công nghệ và đổi mới công nghệ 1.1 Khái niệm về công nghệ Thuật ngữ công nghệ hiện đang đƣợc sử dụng rộng rãi trên thế giới, tuy nhiên việc đƣa ra định nghĩa công nghệ lại chƣa có sự thống nhất. Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam, có sáu khái niệm về công nghệ: (i) công nghệ là môn khoa học ứng dụng, nhằm vận dụng các quy luật tự nhiên và các nguyên lý khoa học, đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của con ngƣời; (ii) công nghệ là các phƣơng tiện kỹ thuật, là sự thể hiện vật chất hóa các tri thức ứng dụng khoa học; (iii) công nghệ là tập hợp các cách thức, các phƣơng pháp dựa trên cơ sở khoa học và đƣợc ứng dụng vào sản xuất trong các ngành sản xuất khác nhau để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ; (iv) công nghệ gồm nhiều yếu tố hợp thành nhƣ phƣơng tiện, máy móc, thiết bị, các quá trình vận hành, các phƣơng pháp tổ chức, quản lý đảm bảo cho quá trình sản xuất và dịch vụ xã hội; (v) về mặt kinh tế học, trong mối quan hệ với sản xuất, công nghệ đƣợc coi là phƣơng tiện để thực hiện quá trình sản xuất, biến đổi các đầu vào để các đầu ra cho các sản phẩm và dịch vụ mong muốn; (vi) công nghệ là việc áp dụng các thành tựu vào sản xuất và đời sống bằng cách sử dụng các phƣơng tiện kỹ thuật, các phƣơng pháp sản xuất và quản lý với tƣ cách là những kết quả của các hoạt động nghiên cứu, phát triển của quá trình xử lý một cách hệ thống và có phƣơng pháp toàn bộ những tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng và kỹ xảo đƣợc con ngƣời tích lũy và tạo ra trong toàn bộ quá trình phát triển của mình [39]. Các tổ chức khác nhau cũng có cách nhìn nhận khác nhau về công nghệ. Theo UNIDO thì công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống 9 z và có phương pháp, trong khi đó tổ chức ESCAP (1989) lại quan niệm “công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình kỹ thuật để chế biến vật liệu và thông tin; công nghệ bao gồm kỹ năng, kiến thức, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ” [26].
Ở Việt Nam, khái niệm công nghệ cũng đã đƣợc trình bày trong Luật Khoa học và công nghệ (ban hành năm 2000 và luật sửa đổi năm 2013) “công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. Khái niệm này gần với định nghĩa của ESCAP và phù hợp với các nƣớc đang phát triển và đƣợc sử dụng trong luận văn làm cơ sở phân tích về chính sách ĐMCN. Cũng theo ESCAP, bất kỳ công nghệ nào cũng hàm chứa trong nó bốn thành phần, có mối quan hệ tƣơng hỗ với nhau đề thực hiện quá trình biến đổi mong muốn; đó là phần kỹ thuật, phần con ngƣời, phần thông tin và phần tổ chức. - Phần kỹ thuật: công nghệ hàm chứa trong các dạng vật thể nhƣ máy móc, thiết bị, phƣơng tiện và cấu trúc hạ tầng.
- Phần con ngƣời: công nghệ hàm chứa trong các kỹ năng công nghệ của con ngƣời, nó bao gồm kiến thức, kinh nghiệm do học hỏi và tích lũy đƣợc trong quá trình sử dụng công nghệ. - Phần thông tin: công nghệ hàm chứa trong các dạng dữ liệu đã đƣợc tƣ liệu hóa để sử dụng trong các hoạt động của công nghệ.