mở đầu cho tố tụng dân sự. Nếu không thực hiện thụ lý vụ án thì Tòa án sẽ không có những tài liệu, chứng cứ ban đầu kèm theo, không xác định chính xác nội dung tranh chấp, từ đó nếu có tiếp tục giải quyết vụ án thì cũng dẫn đến việc áp dụng sai pháp luật nội dung, giải quyết mâu thuẫn không đúng đắn, xảy ra tình trạng khiếu nại kéo dài và làm mất lòng tin ở quần chúng nhân dân. Thụ lý VADS không đơn thuần chỉ là một hành vi vào sổ thụ lý vụ án, mà là cả một quy trình 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cần tiến hành lần lƣợt từng bƣớc, bắt đầu từ lúc nhận đơn và xem xét đơn kiện có thỏa mãn các điều kiện thụ lý VADS hay không; yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn kiện; xác định tiền tạm ứng án phí; vào sổ thụ lý và thông báo cho đƣơng sự. Nhƣ vậy, nếu ngay từ khâu đầu tiên này mà không làm đúng thì tất yếu sẽ dẫn đến việc giải quyết VADS thiếu chính xác, không hiệu quả.
Thụ lý VADS làm phát sinh quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Khi đã quyết định thụ lý VADS thì lúc này Tòa án sẽ chịu trách nhiệm giải quyết VADS, làm phát sinh tƣ cách của các chủ thể pháp luật, sẽ có nguyên đơn, bị đơn, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Những ngƣời này sẽ có những quyền và nghĩa vụ tố tụng do PLTTDS quy định, đồng thời thụ lý VADS làm phát sinh mối quan hệ giữa Tòa án với các đƣơng sự. Thụ lý VADS là cơ sở để Tòa án tính thời hạn giải quyết VADS.
Pháp luật quy định một thời hạn nhất định để giải quyết VADS và thời han đó sẽ đƣợc bắt đầu tính kể từ thời điểm thụ lý VADS. Từ đây, sẽ là căn cứ để ngƣời dân thực hiện quyền khiếu nại nếu Tòa án cố tình không thụ lý VADS, hoặc kéo dài thời gian giải quyết ảnh hƣởng đến quyền lợi hợp pháp của họ. Khi Tòa án thực hiện đúng quy định về thời hạn giải quyết vụ án VADS sẽ không còn tình trạng vụ án bị kéo dài, tồn đọng, kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đƣơng sự, đảm bảo cho việc thực thi pháp luật và góp phần bảo vệ pháp chế XHCN. SƠ LƢỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TTDS VIỆT NAM VỀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ 1.
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật TTDS Việt Nam gắn liền với sự ra đời và phát triển của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến năm 1946 là cơ sở pháp lý quan trọng cho các quy định ở các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý thấp hơn. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhìn chung, trong thời kỳ này vì điều kiện chƣa cho phép nên việc soạn thảo các văn bản pháp luật nói chung và văn bản pháp luật về tố tụng dân sự nói riêng là rất hạn chế. Ngày 10/10/1945, Nhà nƣớc đã ban hành Sắc lệnh số 47/SL cho phép áp dụng luật lệ cũ để xét xử nhƣng “không trái với nguyên tắc độc lập của nƣớc Việt Nam và chính thể Cộng hòa”, trong đó có Điều 11 quy định về thủ tục tố tụng cho phép về tạm thời giữ thủ tục tố tụng chế độ cũ.
Đến ngày 17/4/1946, Nhà nƣớc đã ban hành Sắc lệnh số 51 có quy định về việc kiện, khởi tố và thụ lý vụ án. Tuy nhiên, thực chất lại không có quy định thụ lý nhƣ thế nào. Sau đó, Sắc lệnh số 97 ngày 22/5/1950 đƣợc ban hành đã bãi bỏ việc áp dụng luật lệ của chế độ cũ để xét xử. Cùng ngày, Sắc lệnh số 85 về cải cách bộ máy tƣ pháp và tố tụng, từ Điều 15 đến Điều 18 có quy định về thủ tục tố tụng nhƣng không có điều luật nào quy định về thụ lý VADS.
Và trong khoảng thời gian từ năm 1955 đến năm 1960, mặc dù Nhà nƣớc có ban hành nhiều các văn bản pháp luật tố tụng, nhƣng nhìn chung chỉ mới dừng lại ở việc quy định về nguyên tắc giải quyết các VADS mà chƣa có quy định cụ thể về thụ lý VADS. Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 ra đời và tiếp theo là Luật tổ chức TAND năm 1960 ra đời kèm theo một khối lƣợng đáng kể các văn bản hƣớng dẫn thủ tục giải quyết các tranh chấp về dân sự, đặc biệt là thủ tục giải quyết ly hôn. Từ đây đã đặt ra yêu cầu phải có một văn bản quy định cụ thể về thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình. Văn bản pháp luật quan trọng nhất ghi nhận điều này chính là Thông tƣ số 39 ngày 21/1/1972 của TAND tối cao hƣớng dẫn việc thụ lý, di lý, xếp và tạm xếp những việc kiện về hôn nhân và gia đình, tranh chấp về dân sự.
Trong thông tƣ này, TANDTC đã hƣớng dẫn cụ thể việc thụ lý VADS nhƣ sau “Khi nghiên cứu một đơn kiện, Thẩm phán cần xem xét nội dung của đơn kiện có rõ ràng không, vụ kiện có thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án không, nguyên đơn có đủ tƣ cách đi kiện không. Nếu nhận thấy nội dung đơn kiện đã rõ ràng, vụ kiện thuộc thẩm quyền của Tòa án mình và nguyên đơn có đủ tƣ cách đi kiện thì Thẩm phán phải thụ lý vụ kiện. Việc đó phải đƣợc vào sổ thụ lý ngay”. Thông tƣ này đã trở thành 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com văn bản pháp lý quan trọng, góp phần vào giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình đƣợc nhanh chóng và hiệu quả (17,tr 19).
Nhìn chung, do điều kiện đất nƣớc còn gặp nhiều khó khăn, chậm phát triển, các quan hệ xã hội có tranh chấp không quá phức tạp nên số lƣợng văn bản pháp luật quy định về thủ tục tố tụng dân sự và hƣớng dẫn về việc thụ lý VADS còn rất ít. Tuy vậy, từ năm 1960 trở đi, Nhà nƣớc ta cũng đã bƣớc đầu quan tâm và ban hành các văn bản pháp luật tố tụng dân sự, trong đó có quy định về thụ lý VADS – làm cơ sở để giải quyết các tranh chấp trong thời kỳ này. Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004 Đất nƣớc bƣớc vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới kể từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986. Với sự chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang nên kinh tế thị trƣờng nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc, theo định hƣớng XHCN đã tạo sự phát triển phong phú đa dạng các quan hệ kinh tế và tác động mạnh mẽ đến các thiết chế xã hội.
Các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động phát sinh trong điều kiện kinh tế mới đòi hỏi phải có sự điều chỉnh thích hợp về pháp luật. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên mà trong thời gian này, các văn bản pháp luật nói chung và văn bản pháp luật tố tụng nói riêng đã đƣợc ban hành nhiều, trong đó phải kể đến ba pháp lệnh cơ bản là PLTTGQCVDS đƣợc ban hành ngày 29/11/1989, PLTTGQCVAKT đƣợc ban hành ngày 16/3/1994, PLTTGQCTCLĐ đƣợc ban hành 11/4/1996. Đây là những văn bản pháp luật quan trọng có ý nghĩa rất lớn về thủ tục giải quyết các VADS trong thời kỳ này, đặc biệt vấn đề thụ lý vụ án cũng đã đƣợc quy định trong các văn bản pháp luật này tạo cơ sở pháp lý cho quá trình giải quyết VADS. Về điều kiện thụ lý đƣợc quy định tại Điều 36 PLTTGQCVDS, Điều 32 PLTTGQCVAKT, Điều 34 PLTTGQCTCLĐ.
Nhìn chung, các điều luật này đều chỉ rõ một VADS, VAKT hay một tranh chấp lao động chỉ đƣợc Tòa án 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thụ lý giải quyết khi có đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, đồng thời thỏa mãn các yêu cầu về quyền khởi kiện đối với chủ thể khởi kiện (thời hiệu khởi kiện, thuộc thẩm quyền của Tòa án, đã qua các thủ tục trƣớc đó nếu luật có quy định, chƣa đƣợc giải quyết bằng văn bản, quyết định có hiệu của Tòa án). Về trình tự, thủ tục thụ lý các văn bản pháp luật này đều quy định sau khi nhận đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo, nếu thấy đơn khởi kiện không thuộc một trong các trƣờng hợp trả lại đơn kiện thì Tòa án cần xem xét vụ án có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình không. Nếu thuộc thẩm quyền của Tòa án mình thì thông báo ngay cho nguyên đơn biết để nộp tiền tạm ứng án phí, trừ trƣờng hợp đƣợc miến nộp tiền tạm ứng phí án phí. Tại Điều 33 PLTTGQCVDS và khoản 2 Điều 35 PLTTGQCTCLĐ thì Tòa án thụ lý vụ án kể từ ngày nguyên đơn xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí và thời hạn nộp là bảy ngày kể từ ngày nộp đơn còn tại khoản 2 Điều 37 PLTTGQCVDS thì Tòa án thụ lý vụ án kể từ ngày nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí và thời hạn nộp là một tháng kể từ ngày nộp đơn.
Ngoài ra, Tòa án có thể gia hạn nộp tiền tạm ứng án phi một tháng. Hết thời hạn này mà nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng án phí thì Tòa án không thụ lý vụ án (19,tr 20). Nhìn chung, ba văn bản pháp luật nói trên đã có quy định về thụ lý các VADS, vụ án kinh tế, tranh chấp lao động. So với các văn bản pháp luật tố tụng trƣớc đó thì những quy định trên đã cụ thể hơn rất nhiều khi đề cập rõ ràng những trƣờng hợp Tòa án trả lại đơn kiện và trình tự, thủ tục thụ lý.
Tuy vậy, bên cạnh đó thì vẫn còn những hạn chế nhƣ: Không quy định thời hạn mà tòa án xem xét giải quyết để biết đƣợc vụ án có thuộc thẩm quyền của mình hay không nên dẫn đến tình trạng thờ ơ, thiếu trách nhiệm của Tòa án. Ngoài ra, việc quy định 3 thủ tục khác nhau với những thời điểm thụ lý vụ án khác nhau dễ gây nhiều vƣớng mắc, nhầm lẫn, nhất là khi mà danh giới giữa các VADS, vụ án kinh tế, tranh chấp lao động không phải lúc nào cũng rạch ròi, tách biệt. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.