Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE HÒA GIẢI VỤ ÁN DAN SỰ 1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của hòa giải vụ án dân sự 1.1 Khai niệm hòa giải vụ an dân sự Hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp truyền thống và phổ biến trong đời sống xã hội. Trong khoa học pháp lý, hòa giải được hiểu dưới nhiêu góc độ khác nhau. Dưới góc độ là một thủ tục giải quyết tranh chấp thì thủ tục hòa giải là trình tự mà các bên tham gia bao gồm các bên tranh chấp và bên trung gian hòa giải cần tuân theo dé đạt được tự nguyện thỏa thuận giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp đang tôn tại giữa các bên. Dưới góc độ pháp lý, hòa giải là một chế định pháp luật.
Theo Giáo trình Ly luận Nhà nước và Pháp luật của trường Đại học Luật Hà Nội thi: “Chế định pháp luật là một tập hợp được cau trúc từ nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội có liên quan mật thiết với nhau thuộc cùng một loai” [20]. Theo định nghĩa này, chế định hòa giải là một tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hòa giải giải quyết tranh chấp. Dưới góc độ là một hoạt động giải quyết tranh chấp, hòa giải là hoạt động của một bên trung gian nhằm giúp đỡ các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau về giải quyết tranh chấp. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, người viết chỉ chú trọng nghiên cứu hòa giải dưới góc độ là một hoạt động giải quyết tranh chấp.
Tuy nhiên, dù dưới góc độ là một hoạt động giải quyết tranh chấp thì trước đây cũng như hiện nay có nhiêu quan điêm về hòa giải, cụ thê như sau: Theo Từ dién tiếng Việt, “hỏa giải là việc thuyết phục các bên đồng ý cham dirt xung đột, xích mich một cách ổn thỏa” [24. Khái niệm nay dé cập đến hành động và mục đích của hòa giải, nhưng chưa nêu được day đủ các yếu tố như bản chât, nội dung, và chủ thê của hòa giải. Theo Từ điển Luật học Anh - Mỹ của Black: “hỏa giải là một quá trình giải quyết tranh chấp mang tính chất riêng tư, trong đó, hòa giải viên là người thứ ba trung gian giúp các bên tranh chấp dat được thỏa thuận” [1, tr. Tương tự như vậy, từ điển Luật học cuả Cộng hòa Pháp giải thích: “hỏa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của người trung gian thứ ba (hòa giải viên) để giúp đưa ra các đề nghị giải quyết một cách thân thiện” [12, tr.
Hai từ điển nêu trên đưa ra định nghĩa về hòa giải khá tương đồng nhau khi cả hai định nghĩa đều thê hiện ba yếu tố đó là: thứ nhất là có sự tranh chấp giữa các bên; thứ hai là có sự tham gia của bên thứ ba trung lập để đưa ra ý kiến tư van; thứ ba là có sự thống nhất ý chí giữa các bên dé giải quyết tranh chấp. Ngoài ra, trong khoa học pháp lý, có quan điểm cho rằng: “hỏa giải là quá trình giải quyết những tranh chấp, bat dong giữa các bên. Trong quả trình hòa giải cân đến bên thứ ba với vai trò trung lập, làm trung gian giúp các bên tranh chấp giải quyết được những bat đồng và đạt duoc một thỏa thuận phù hợp với quy định cua pháp luật, dao đức xã hội và tự nguyện thực hiện những thỏa thuận đó” [17]. Theo quan điểm này, hòa giải có mục đích giải quyết thành công tranh chấp.
Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp hòa giải đều thành công. Khi đó, dù mâu thuẫn chưa được giải quyết hoàn toàn nhưng các bên tranh chấp cũng có cơ hội hiểu rõ hơn nội dung tranh chấp, bày tỏ ý chí của mình với đối phương va cũng được nghe ý kiến của đối phương về vụ tranh chấp. Từ đó, hai bên có thé phần nào tìm được tiếng nói chung và làm giảm mức độ mâu thuẫn. Từ các quan điểm trên, có thể khái quát hòa giải là quá trình các bên đàm phán với nhau để giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của bên thứ ba.
Như vậy, hòa giải có sự tham gia của hai bên tranh chấp và bên trung gian thứ ba. Khác với phương thức giải quyết tranh chấp thương lượng, tức là hai bên, bằng thiện chí của mình, cùng bàn bạc, thảo luận dé đi tới một thỏa thuận giải quyết tranh chấp, thì hòa giải coi trọng vai trò của bên trung gian thứ ba giúp các bên tranh chấp đưa ra phương hướng giải quyết nhằm dung hòa quyền và lợi ích của cả hai bên để từ đó các bên bàn bạc, thảo luận đi đến thống nhất phương án giải quyết tranh chấp. Trong cuộc sống hàng ngày, việc xảy ra mâu thuẫn, xung đột trong giao lưu dân sự là điều không thể tránh khỏi. Tranh chấp phát sinh từ nhiều quan hệ xã hội khác nhau như quan hệ dân sự, quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ kinh doanh, thương mại, hay quan hệ lao động.
Một khi tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là “tranh chấp dân sự ”) giữa các bên được một bên yêu cầu Tòa án giải quyết thì điều này có nghĩa là một bên đã chủ động lựa chọn phương thức tố tụng dân sự tại Tòa án để giải quyết tranh chấp giữa các bên. Khi Tòa án thụ lý giải quyết tranh chấp dân sự theo yêu cầu của một hoặc nhiều bên thì tranh chấp đó được xác định là vụ án dân sự. Một khi việc giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba là Tòa án - cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước thì việc giải quyết tranh chấp đó phải tuân theo hình thức, trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng quy định. Các quyết định, bản án do Tòa án tuyên tại mỗi giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp đều được đảm bao thi hành bằng quyền lực nhà nước phù hợp với quy định của pháp luật TTDS và pháp luật về thi hành án.
Như vậy, vai trò của bên thứ ba là Tòa án không chỉ dừng lại ở việc tư vấn, đề xuất phương án giải quyết tranh chấp như Hòa giải viên, mà pháp luật còn trao cho Tòa án quyên quyết định cuối cùng đối với vụ kiện nếu như các bên tranh chấp không thể tự thỏa thuận được, cũng như quyền quyết định các biện pháp cần thiết dé đảm bảo thi hành án. Từ những phân tích ở trên, có thé thay hòa giải và tô tụng dân sự tại Tòa án đều là các phương thức độc lập mà các bên tranh chấp có thể lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự giữa họ. Nhưng khi nói tới hòa giải vụ án dân sự tức là đã đề cập đến việc sử dụng cả hai phương thức giải quyết tranh chấp dân sự, trong đó tố tụng dân sự là phương thức chủ đạo còn hòa giải là phương thức được tích hợp vào quá trình tố tụng dân sự. Việc sử dụng kết hợp nhiều phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau là một hiện tượng bình thường, xảy ra khá phố biến và xuất phat từ chính nhu cầu của các bên tranh chấp là phải tìm mọi cách thích hop để giải quyết hiệu qua, dứt điểm các xung đột, vướng mắc gây thiệt hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
Thông thường, phương thức giải quyết tranh chấp được các bên ưu tiên lựa chọn là thương lượng. Trong trường hợp thương lượng không thành công, các bên sẽ tìm đến bên thứ ba để giúp ho tìm ra cách thức giải quyết tranh chấp một cách 6n thỏa, hợp lý dé các bên tự quyết trên cơ sở bình dang, đồng thuận và tự nguyện 10 mà không phải nhờ tới “cửa quan”. Nếu hòa giải không thành công, các bên buộc phải sử dụng đến các phương thức có tính chất hành chính hơn mà ở đó quyền quyết định sự việc đã thuộc về bên thứ ba như Trọng tài hay Tòa án và các bên phải chấp nhận, thi hành quyết định đó dù có hài lòng hay không. Tuy nhiên, dựa trên bản chất của quan hệ pháp luật dân sự là tôn trọng sự thỏa thuận giữa các bên nên trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng thủ tục TTDS, Tòa án vẫn luôn chủ động dành cơ hội cho các bên tranh chấp thương lượng, đàm phán với nhau.
Tòa án sẽ là bên thứ ba đưa ra những hướng dẫn, tư vấn về điểm mạnh, điểm yếu của mỗi bên trong tranh chấp cũng như những van đề pháp lý của vụ việc và đặc biệt là hậu quả pháp lý mà mỗi bên phải gánh chịu khi Tòa án ra quyết định, bản án giải quyết vụ án dân sự. Trên cơ sơ những phân tích, tư vấn của Tòa án, các bên sẽ có nhận thức rõ ràng hơn về vụ việc và tại các thời điểm khác nhau của quá trình tố tụng, các bên tranh chấp vẫn luôn được dành quyền chủ động thỏa thuận về phương án giải quyết tranh chấp hợp tình, hợp lý. Nếu thỏa thuận đó không trái với quy định pháp luật và đạo đức xã hội, Tòa án sẽ công nhận thỏa thuận của các bên tranh chấp và bảo đảm hiệu lực pháp luật của thỏa thuận đó thông qua quyết định, bản án chính thức của Tòa án. Cách thức giải quyết này được gọi là hòa giải vụ án dân sự.
Hòa giải vụ án dân sự do Tòa án tiến hành là một trong những hình thức hòa giải. Trên thực tế tồn tại nhiều hình thức hòa giải khác như hòa giải cơ sở, hòa giải ở Ủy ban nhân dân (UBND),. Do đều là hòa giải nên giữa hòa giải vụ án dân sự (hay hòa giải trong TTDS) và các hình thức hòa giải khác đều mang đặc điểm chung của hòa giải. Thứ nhất, các hình thức hòa giải này đều là hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong đời sống dân sự, tức là các bên trong quan hệ pháp luật nội dung đã có mâu thuẫn về lợi ích.
Mối quan hệ giữa họ cần có một biện pháp đề điều hòa lợi ích giữa các bên. Thứ hai, các hình thức hòa giải này đều có sự tham gia của chủ thế thứ ba đóng vai trò trung gian giúp đỡ các bên giải quyết tranh chấp. Thứ ba, các bên tranh chấp có quyền quyết định và tự định đoạt khi tiến hành giải quyết tranh chấp bằng hòa giải.