Chương 1: Cơ sở lý thuyết về xuất khẩu hàng hóa. − Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu linh kiện điện tử của công ty TNHH Relic Việt Nam. − Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu linh kiện điện tử tại công ty TNHH Relic Việt Nam. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 1.
Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu hàng hoá 1. Khái niệm và đặc điểm của xuất khẩu hàng hoá 1. Khái niệm về xuất khẩu hàng hoá “Xuất khẩu (Export) là việc bán sản phẩm làm từ một quốc gia để bán cho chính quốc gia đó tiêu dùng hay bán lại cho các quốc gia khác.” (Hà Nam Khánh Giao, 2021) Một định nghĩa khác về xuất khẩu được đưa ra trong giáo trình thương mại quốc tế đó là: "Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau. Xuất khẩu là sản phẩm được bán từ nước này sang nước khác." (Feenstra & Taylor, 2010) Hoạt động xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán, với mục tiêu là lợi nhuận.
Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc với cả hai quốc gia. Mục đích của hoạt động này là thu được một khoản ngoại tệ dựa trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Khi việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này Theo một cách chung nhất thì khi nào có bất cứ một lượng tiền nào đó được dịch chuyển qua biên giới một quốc gia để chi trả cho một lượng hàng hoá dịch vụ được đưa ra khỏi quốc gia đó thì khi đó người ta cho rằng một thương vụ xuất khẩu đã được kinh doanh. Đặc điểm của xuất khẩu hàng hoá Trong cuốn Quản trị xuất nhập khẩu, Đoàn Thị Hồng Vân (2020) đã nêu đặc điểm hoạt động xuất khẩu có những yếu tố sau: So với buôn bán hàng hoá trong nước thì hoạt động xuất khẩu hàng hoá có những điểm khác biệt cơ bản dễ nhận thấy như: − Hai chủ thể chính trong hoạt động xuất khẩu (bên mua và bên bán) là những cá nhân hay tổ chức có tư cách pháp nhân, có quốc tịch và trụ sở chính của doanh nghiệp đóng ở các nước khác nhau.
Đây là điểm khác biệt cơ bản và quan trọng nhất. Chính vì sự khác biệt trong ngôn ngữ, lối sống, phong tục tập quán, cách thức làm việc…giữa hai bên nên nghiệp vụ xuất khẩu thường khó khăn, phức tạp và dễ nảy sinh mâu thuẫn hơn so với buôn bán hàng hoá trong nước − Hàng hoá trong hoạt động xuất khẩu có thể bị dịch chuyển qua biên giới một quốc gia và khối lượng hàng hoá thường là lớn hơn rất nhiều so với buôn bán trong nước. − Phương tiện thanh toán dùng trong xuất khẩu có thể là ngoại tệ đối với một bên 4 hoặc với cả hai bên do thoả thuận trong hợp đồng xuất khẩu − Nguồn luật điều chỉnh quan hệ mua bán, giải quyết các tranh chấp khi phát sinh có thể là luật của nước bên mua, luật của nước bên bán hay luật quốc tế mà các bên đã thoả thuận trong hợp đồng. Các hình thức xuất khẩu hàng hoá Theo Đoàn Thị Hồng Vân (2020) các hình thức xuất khẩu gồm có: − Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu mà các doanh nghiệp ngoại thương tự bỏ vốn ra mua sản phẩm từ các đơn vị sản xuất trong nước, sau đó trực tiếp tiến hành các giao dịch buôn bán và kí kết hợp đồng xuất khẩu với đối tác nước ngoài nếu được nhà nước và Bộ Thương mại cho phép.
Với hình thức này các doanh nghiệp trực tiếp quan hệ với các khách hàng nước ngoài mà không qua bất kỳ một trung gian nào. + Ưu điểm: Các doanh nghiệp sẽ đạt được hiệu quả kinh doanh cũng như lợi nhuận cao hơn do tự mình mua được hàng hoá tốt phù hợp với yêu cầu khách hàng với giá mua vào thấp và không phải cho trả chi phí cho bên trung gian nào. Các điều kiện trong hợp đồng xuất khẩu (giá cả hàng hoá, phương tiện vận chuyển, thời gian và địa điểm giao hàng, phương thức thanh toán) do hai bên tự thoả thuận và quyết định nên sẽ đảm bào được lợi ích của hai bên. Các doanh nghiệp xuất khẩu có cơ hội thâm nhập thị trường, trực tiếp tìm hiểu nhu cầu sở thích cũng như ý kiến phản hồi từ khách hàng nên khả năng đáp ứng yêu cầu hay khắc phục thiếu sót sẽ tốt hơn.
+ Nhược điểm: Độ rủi ro lớn, hàng hoá có thể không bán được hay bán chậm do những biến động từ phía khách hàng hay từ thị trường dẫn đên ứ đọng vốn kinh doanh Khối lượng hàng hoá phải đủ lớn để bù đắp các chi phí điều tra thị trường, giao dịch, hải quan… mà doanh nghiệp phải bỏ ra Đối với các thị trường mới thâm nhập, chưa hiểu rõ thì các doanh nghiệp xuất khẩu dễ bị ép giá, bị lấn át… Hình thức này chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có qui mô lớn, các cán bộ ngoại thương phải có trình độ và nghiệp vụ cao, sản phẩm xuất khẩu phải có uy tín tương đối trên thị trường. Đặc biệt các doanh nghiệp chỉ nên xuất khẩu theo hình thức này khi đã biết rõ về khách hàng, về nhu cầu thị trường để tránh khỏi những rủi ro đáng tiếc 5 − Xuất khẩu tại chỗ Đây là hình thức xuất khẩu mà hàng hoá không nhất thiết phải dịch chuyển qua biên giới quốc gia mà vẫn đến được tay khách hàng nước ngoài. Một điểm đặc biệt của hình thức xuất khẩu này là khách hàng tự tìm đến doanh nghiệp bán hàng chứ doanh nghiệp không phải tự đi tìm kiếm khách hàng. Hình thức xuất khẩu này được tiến hành thông qua việc bán hàng tại các hội chợ, triển lãm, địa điểm du lịch cho các khách nước ngoài.
Hình thức này đang được khai thác tối đa tại các nước có ngành du lịch phát triển mạnh và có nhiều đơn vị kinh doanh hay các tổ chức nước ngoài đóng tại đó. + Ưu điểm: Các doanh nghiệp xuất khẩu tránh được nhiều rủi ro do việc buôn bán được tiến hành ngay trong môi trường quen thuộc nhất (tại nước mình) Doanh nghiệp không phải chi phí cho công tác nghiên cứu tìm kiếm thị trường, vận chuyển hàng hoá qua biên giới, không phải tiến hành các thủ tục hải quan, mua bảo hiểm quốc tế… Hình thức này không chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu vì lợi nhuận thu được nhỏ lại không ổn định. Phần lớn doanh nghiệp tập trung đẩy mạnh xuất khẩu ra nước ngoài để mở rộng thị trường về mặt không gian và chủ động trong tìm kiếm thị trường, bạn hàng mới. Song đối với các doanh nghiệp có chi nhánh ở nước ngoài thì thực hiện kinh doanh ngay tại thị trường đó lại là phổ biến và hiệu quả.
Đó là nhờ vào lợi thế về vị trí, ở ngay thị trường tiêu thụ sẽ giảm thiểu được chi phí vận chuyển và thủ tục hỗ trợ rườm rà. + Nhược điểm Xuất khẩu tại chỗ đối mặt với rủi ro về an ninh và an toàn do hàng hóa và dịch vụ không được kiểm soát nghiêm túc ngay từ đầu. Điều này có thể tạo ra khả năng mất mát, hư hại hoặc thậm chí là rủi ro liên quan đến an toàn lao động. Doanh nghiệp cần phải đối mặt với thách thức quản lý hàng hóa và dịch vụ ngay tại địa điểm sản xuất hoặc cung ứng.
Điều này đôi khi có thể tăng độ phức tạp và yêu cầu một hệ thống quản lý hiệu quả để đảm bảo sự linh hoạt và đồng bộ trong quá trình xuất khẩu. − Xuất khẩu ủy thác Đây là một hình thức dịch vụ thương mại, trong đó đơn vị có hàng xuất khẩu (bên uỷ thác) sẽ giao cho đơn vị xuất khẩu (bên được uỷ thác) tiến hành xuất khẩu một lô 6 hàng nhất định với danh nghĩa của bên được uỷ thác nhưng với chi phí của bên uỷ thác. Đơn vị xuất khẩu chỉ thực hiện các thủ tục xuất khẩu hàng hóa, kể cả vận chuyển và được nhận một khoản tiền do bên uỷ thác trả (gọi là phí uỷ thác) + Ưu điểm: Doanh nghiệp ngoại thương không phải tự bỏ vốn ra mua hàng, không phải chi cho các khoản nghiên cứu thị trường, giao dịch kí kết hợp đồng xuất khẩu, không phải chịu trách nhiệm cuối cùng về việc bán hàng nên tránh được những rủi ro trong kinh doanh mà vẫn thu được lợi nhuận chắc chắn từ phí uỷ thác. + Nhược điểm: Vì không tham gia trực tiếp vào quá trình nghiên cứu, tìm kiếm thị trường xuất khẩu nên thị trường và khách hàng của doanh nghiệp bị hạn chế tương đối.
− Xuất khẩu gia công Gia công xuất khẩu là một phương thức sản xuất hàng xuất khẩu. Trong đó người đặt gia công ở nước ngoài cung cấp: máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm theo mẫu và định mức cho trước. Người nhận gia công trong nước tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách. Hàng hoá sau khi sản xuất xong được giao cho bên đặt gia công.
Bên nhận gia công được trả tiền công. Khi hoạt động gia công vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì được gọi là gia công quốc tế. Theo hình thức xuất khẩu này, doanh nghiệp ngoại thương đứng ra nhập nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm về cho các đơn vị nhận gia công từ các khách hàng nước ngoài đặt gia công. Sau đó, đơn vị ngoại thương sẽ nhận thành phẩm từ các đơn vị nhận gia công và xuất sản phẩm này sang cho khách hàng nước ngoài đã đặt gia công.
Đơn vị ngoại thương sẽ nhận được khoản tiền thù lao gia công. + Ưu điểm của hình thức gia công xuất khẩu: Hoạt động gia công xuất khẩu có đặc điểm là doanh nghiệp ngoại thương không phải bỏ vốn vào kinh doanh nhưng thu được hiệu quả cũng khá cao, ít rủi ro và khả năng thanh toán đảm bảo vì đầu ra chắc chắn. Đây là hình thức rất thích hợp với các doanh nghiệp Việt Nam vì các doanh nghiệp vốn đầu tư hạn chế, chưa am hiểu về luật lệ và thị trường thế giới, chưa có thương hiệu, kiểu dáng công nghiệp nổi tiếng qua gia công xuất khẩu vẫn có thể tham nhập ở mức độ nhất định vào thị trường thế giới. Qua gia công xuất khẩu, doanh nghiệp có thể tích lũy kinh nghiệm tổ chức sản xuất hàng xuất khẩu, kinh nghiệm làm thủ tục xuất khẩu và có thể tích lũy vốn.