Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 6 Chương 2: Cơ sở lý luận chung về xuất khẩu và nâng cao năng lực xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng nâng cao năng lực xuất khẩu mặt hàng linh kiện, phụ tùng, máy móc sang thị trường EU của công ty Cổ phần Cung ứng nhân lực và Thương mại quốc tế Chương 4: Định hướng phát triển và giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu mặt hàng linh kiện, phụ tùng, máy móc sang thị trường EU của công ty Cổ phần Cung ứng nhân lực và Thương mại quốc tế 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP 2. Cơ sở lý luận về xuất khẩu 2. Khái niệm xuất khẩu Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ một quốc gia hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ quốc gia đó nơi được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Đây là loại hình thức kinh doanh quốc tế cơ bản được các doanh nghiệp lựa chọn nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ ra bên ngoài thị trường nội địa, giúp tăng doanh số bán hàng, đồng thời khai thác được tính kinh tế theo quy mô khi thị trường được mở rộng.
Lựa chọn phương thức này giúp doanh nghiệp có thể bước đầu tham gia hoạt động kinh doanh quốc tế bằng việc đưa hàng hóa, sản phẩm của mình ra thị trường nước ngoài nhưng không phải đối diện với nhiều rủi ro và đầu tư chi phí ban đầu lớn. Theo điều 28, Luật Thương mại 2019, xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Xuất khẩu là việc bán hàng hóa hoặc dịch vụ cho quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán theo nguyên tắc ngang giá. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với ít nhất một bên trong mối quan hệ thương mại quốc tế này.
Đây là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương diễn ra trên phạm vi rất rộng, cả về không gian lẫn thời gian, đã xuất hiện từ rất lâu và ngày càng phát triển. Hoạt động này diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện từ sản xuất hàng tiêu dùng cho đến máy móc thiết bị, tư liệu sản xuất và cả công nghệ kỹ thuật cao. Xuất khẩu không phải là hoạt động bán hàng đơn lẻ, mà là một hệ thống bán hàng có tổ chức, có sự giám sát quản lý của cấp nhà nước cả bên trong lẫn bên ngoài với mục đích thu lợi nhuận, tăng thu ngoại tệ và phát triển nền kinh tế quốc gia. 8 Ngoài ra, theo Luật thương mại quốc tế 2005, điều 28 khoản 1: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật." Theo lý luận thương mại quốc tế, xuất khẩu là việc bán hàng hóa, dịch vụ ra nước ngoài.
Như vậy, xuất khẩu là việc đưa các loại hàng hóa mà pháp luật cho phép từ đất nước mình sang quốc gia khác để buôn bán kinh doanh nhằm mục đích mang về lợi nhuận cho đơn vị xuất khẩu. Vai trò của xuất khẩu 2.1 Vai trò đối với nền kinh tế Thứ nhất, hoạt động xuất khẩu hàng hóa giúp quốc gia thu được ngoại tệ. Việc có nguồn ngoại tệ dồi dào giúp tăng khả năng thanh toán quốc tế, đồng thời gia tăng nguồn dự trữ ngoại hối. Điều này không chỉ giúp nền kinh tế quốc gia trở nên vững mạnh hơn mà còn tạo điều kiện thuận lợi để chính phủ đầu tư vào cơ sở hạ tầng, giáo dục, và các chương trình xã hội, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng dài hạn.
Thứ hai, xuất khẩu kích thích sản xuất và gia tăng việc làm. Xuất khẩu thúc đẩy sản xuất vì các doanh nghiệp cần phải đáp ứng nhu cầu từ thị trường quốc tế. Việc mở rộng quy mô sản xuất không chỉ giúp doanh nghiệp tăng doanh thu mà còn yêu cầu tăng cường nhân lực. Kết quả là tạo ra nhiều việc làm hơn cho người lao động, từ đó cải thiện thu nhập và đời sống của người dân.
Khi nhiều người có việc làm, mức tiêu dùng nội địa cũng sẽ gia tăng, tạo hiệu ứng tích cực cho các ngành khác trong nền kinh tế. Thứ ba, xuất khẩu giúp một quốc gia giảm sự phụ thuộc vào thị trường nội địa, đặc biệt trong trường hợp nền kinh tế nội địa gặp khó khăn. Khi có thể bán hàng hóa ra nhiều thị trường khác nhau, quốc gia sẽ không bị ảnh hưởng quá lớn từ các biến động kinh tế nội địa như suy thoái hay khủng hoảng. Điều này giúp ổn định và đa dạng hóa nguồn thu nhập của nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững.
Thứ tư, xuất khẩu góp phần giúp thiết lập và củng cố mối quan hệ thương mại quốc tế của một quốc gia với các quốc gia khác. Mối quan hệ tốt đẹp này có thể mở ra 9 nhiều cơ hội hợp tác kinh tế khác, chẳng hạn như các hiệp định thương mại tự do, thúc đẩy đầu tư nước ngoài, và gia tăng sự tin tưởng giữa các quốc gia. Điều này có tác động lan tỏa, giúp nền kinh tế của quốc gia phát triển và hội nhập sâu hơn vào kinh tế toàn cầu. Vai trò đối với doanh nghiệp Thứ nhất, xuất khẩu giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường và tăng doanh thu.
Khi doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất khẩu, họ có cơ hội tiếp cận với thị trường quốc tế, vượt ra ngoài giới hạn của thị trường trong nước. Thị trường quốc tế rộng lớn mang đến tiềm năng doanh thu cao hơn, vì số lượng khách hàng tiềm năng tăng lên đáng kể. Đối với nhiều doanh nghiệp, thị trường nội địa có thể bị giới hạn về quy mô, do đó việc xuất khẩu cho phép họ mở rộng phạm vi kinh doanh và tăng trưởng doanh thu. Điều này đặc biệt quan trọng trong trường hợp thị trường trong nước đang bão hòa hoặc suy thoái.
Thứ hai, hoạt động xuất khẩu hàng hóa giúp doanh nghiệp gia tăng khả năng cạnh tranh. Tham gia vào thị trường xuất khẩu đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và nhu cầu từ các khách hàng nước ngoài. Điều này kích thích doanh nghiệp cải thiện quy trình sản xuất, đầu tư vào công nghệ hiện đại, và áp dụng các chiến lược quản lý hiệu quả hơn. Khi doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm, họ không chỉ gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế mà còn cải thiện vị thế của mình ngay tại thị trường nội địa Thứ ba, hoạt động xuất khẩu hàng hóa còn tạo cơ hội cho doanh nghiệp hợp tác và phát triển quan hệ đối tác quốc tế.
Thông qua hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp có thể thiết lập và phát triển các mối quan hệ với đối tác nước ngoài, bao gồm khách hàng, nhà cung cấp và nhà đầu tư. Những mối quan hệ này có thể mang lại lợi ích lớn, không chỉ trong việc tiêu thụ sản phẩm mà còn trong việc tiếp cận các nguồn lực khác như công nghệ, vốn đầu tư, hoặc kinh nghiệm quản lý. Các quan hệ đối tác quốc tế cũng có thể mở ra cơ hội cho doanh nghiệp hợp tác trong nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, mở rộng chuỗi cung ứng, và tối ưu hóa chi phí sản xuất. Phân loại xuất khẩu 2.1 Xuất khẩu trực tiếp Trong hình thức xuất khẩu trực tiếp, hai bên mua bán hàng sẽ trực tiếp ký kết hợp đồng ngoại thương.
Hợp đồng ký kết giữa hai bên phải phù hợp với luật lệ của quốc gia cũng như thông lệ mua bán quốc tế. Hình thức xuất khẩu trực tiếp thích hợp đối với gần như mọi loại hình doanh nghiệp, giúp họ chủ động được hoạt động kinh doanh trao đổi và mua bán của doanh nghiệp mình. Loại hình này cũng là sự lựa chọn của các doanh nghiệp đang muốn khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường quốc tế.2 Xuất khẩu uỷ thác Với hình thức xuất khẩu này, bên có hàng sẽ ủy thác cho một đơn vị khác gọi là bên nhận ủy thác để tiến hành xuất khẩu trên danh nghĩa của bên nhận ủy thác. Hiện nay, khá nhiều công ty forwarder được thành lập để buôn bán dịch vụ này.
Để thực hiện hình thức này, doanh nghiệp nhận ủy thác cần ký kết hợp đồng xuất khẩu ủy thác với đơn vị trong nước. Bên nhận ủy thác sẽ ký kết hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh toán đối với đơn vị nước ngoài và cuối cùng là nhận phí ủy thác xuất khẩu từ chủ hàng đã ủy thác xuất khẩu.3 Gia công xuất khẩu quốc tế Đây là hình thức mà công ty trong nước nhận tư liệu sản xuất (chủ yếu là máy móc, nguyên vật liệu) từ công ty nước ngoài về để sản xuất hàng hóa dựa trên yêu cầu của bên đặt hàng. Hàng hóa làm ra sẽ được xuất khẩu ra nước ngoài theo chỉ định của công ty đặt hàng. Hình thức gia công xuất khẩu này đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, được các quốc gia có nguồn lao động dồi dào giá rẻ như Việt Nam áp dụng.
Điều này không những tạo điều kiện tiếp cận công nghệ mới mà còn mang lại việc làm cho người lao động. Việt Nam cũng là một trong số những nước gia công hàng xuất khẩu với nhiều mặt hàng đa dạng như dệt may, da giầy, điện tử.4 Xuất khẩu theo hình thức buôn bán đối lưu Theo hình thức này, mục đích của hoạt động xuất khẩu không phải là nhằm thu về một khoản ngoại tệ, mà là thu về một lượng hàng hóa khác có giá trị tương đương giá 11 trị của hàng hóa xuất khẩu. Doanh nghiệp xuất khẩu có thể sử dụng hình thức này để nhập khẩu những loại hàng hóa mà thị trường trong nước đang khan hiếm hay rất cần, hoặc để bán cho nước thứ ba.5 Xuất khẩu tại chỗ Xuất khẩu tại chỗ là hình thức xuất khẩu mà hàng hóa không qua biên giới quốc gia mà thường là xuất khẩu vào khu vực công nghiệp dành riêng cho các công ty kinh doanh, người nước ngoài. Xuất khẩu tại chỗ là hình thức xuất khẩu mà hàng hóa không qua biên giới quốc gia mà thường là xuất khẩu vào khu vực công nghiệp dành riêng cho các công ty kinh doanh, người nước ngoài.