MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một nước nông nghiệp người dân sống ở nông thôn là chủ yếu chiếm tới hơn 70% dân số. Vậy để phát triển các vùng nông thôn một cách toàn diện và bền vững, nhà nước ta đã đưa ra chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2020 trong phạm vi cả nước. Triển khai nghiên cứu để đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp thực hiện là một trong những việc làm quan trọng hàng đầu trong xây dựng nông thôn mới.
Song, cho đến nay trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên vẫn còn chưa nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Thiếu căn cứ khoa học, nhiều địa phương vẫn còn lúng túng trong quá trình khiển khai thực hiện mà xã Tân Cương cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Trong khi đó, cũng như cả nước, tỉnh Thái Nguyên đang phấn đấu khẩn trương hoàn thành quá trình xây dựng nông thôn mới để làm thay đổi cơ bản diện mạo nông thôn, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người nông dân. Chính vì thế, đẩy nhanh tiến độ thực hiện xây dựng nông thôn mới, đưa ra những giải pháp có tính khả thi cao, phù hợp với yêu cầu, sát với thực tế, là những yêu cầu cấp bách trong thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học này.
Xã Tân Cương là một trong những địa phương có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên. Trong những năm qua thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, kinh tế của xã Tân Cương tăng trưởng khá tốt và liên tục. Giá trị sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm sau cao hơn năm trước, đặc biệt là cây chè chiếm 70% thu nhập của người dân. Đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất luôn được quan tâm chỉ đạo.
Nhiều mô hình sản xuất như: Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, mô hình trồng chè, sản xuất chè an toàn, cây ăn quả…được hình thành và sản xuất có hiệu quả kinh tế cao. Bộ mặt của xã Tân Cương có những biến đổi rõ rệt, kết cấu hạ tầng, nhất là hệ thống giao thông, thuỷ lợi, trường học được đầu tư xây dựng theo hướng kiên cố hoá. n 2 Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì chúng ta cần nhìn nhận rằng trước những yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, nông nghiệp nông thôn xã, sản xuất nông nghiệp vẫn còn nhiều bất cập chưa phát huy được hết tiềm năng sẵn có, sản xuất công nghiệp mang tính chất nhỏ lẻ, làng nghề chè truyền thống chưa phát triển mạnh, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, mặt bằng dân trí không đồng đều, tỷ lệ hộ nghèo còn cao. Tân Cương là một trong 3 xã được thành phố Thái Nguyên chọn làm xã điểm xây dựng nông thôn mới, Đảng bộ và nhân dân xã phấn đấu đến năm 2015 xã đạt 19 tiêu chí nông thôn mới theo bộ tiêu chí quốc gia.
Nhưng hiện tại địa phương này lại được quy hoạch vào khu trung tâm hành chính mới và khu du lịch sinh thái vùng du lịch quốc gia Hồ Núi Cốc, cho đến thời điểm này BCĐ xây dựng nông thôn mới xã Tân Cương vẫn chưa nhận được các hướng dẫn chỉ đạo từ BCĐ cấp trên về việc lập thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại đây. Việc nghiên cứu thành công các giải pháp thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới và từng bước triển khai có hiệu quả các giải pháp đó sẽ được coi là sự khởi đầu cho hàng loạt những thành công tiếp theo tại các địa phương khác đồng thời tạo nên một sự phối hợp có hiệu quả giữa các “nhà” trong công cuộc xây dựng nông thôn mới nói riêng và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp thúc đẩy quá trình xây dựng mô hình nông thôn mới tại xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1.
Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm thực hiện thành công chương trình xây dựng nông thôn theo mô hình nông thôn mới tại xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa lý luận về nông thôn và xây dựng nông thôn mới. - Nghiên cứu về quá trình xây dựng nông thôn mới ở nước ngoài và trong nước nhằm rút ra một số bài học cho địa bàn nghiên cứu. n 3 - Tìm hiểu, đánh giá thực trạng nông thôn tại xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên theo các tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện thành công chương trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp bản thân có thể vận dụng được những kiến thức đã học được để viết bài báo cáo tốt nghiệp phục vụ cho học tập và nghiên cứu khoa học. Nâng cao được năng lực cũng như rèn luyện kỹ năng của mình, vận dụng được những kiến thức đã học ở nhà trường vào thực tiễn, đồng thời bổ sung những kiến thức còn thiếu và những kỹ năng tiếp cận các phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân.
- Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo nghiên cứu và học tập trong lĩnh vực nông thôn mới. Các khuyến nghị và dự báo có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan lãnh đạo, quản lý hoạch định chính sách tại địa phương. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Xây dựng Nông thôn mới là một vấn đề đang được mọi người quan tâm và diễn ra trên cả nước. Do vậy kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu giúp mọi người hiểu rõ thực trạng tại địa phương để từ đó có các chính sách phát triển phù hợp.
Đồng thời đưa ra các giải pháp giúp các cấp chính quyền xây dựng nông thôn mới vào thực tiễn. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Khái niệm về nông thôn và phát triển nông thôn Vùng nông thôn được quan niệm khác nhau ở mỗi nước vì điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau.
Khi định nghĩa về nông thôn người ta thường so sánh nông thôn với thành thị. Trong đó, những tiêu chí quan trọng giúp việc phân biệt khu vực nông thôn và khu vực thành thị bao gồm: Sự khác nhau về nghề nghiệp, môi trường, quy mô cộng đồng, mật độ dân cư, tính hỗn tạp và thuần nhất của dân sô, hướng di cư, sự khác biệt xã hội và phân tầng xã hội. Theo Quyết định số 42/2009 NĐ - CP ngày 07/05/2009 của Chính phủ quy định nước ta có 6 loại đô thị như sau: Điều 9: Đô thị đặc biệt: Quy mô dân số toàn đô thị từ 5 triệu người trở lên, mật độ dân số khu vực nội thành từ 15.000 người/km2 trở lên. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu đạt 90% so với tổng số lao động.
Điều 10: Đô thị loại 1: Quy mô dân số đô thị từ 1 triệu người trở lên (đô thị trực thuộc Trung ương) và 500 người trở lên đối với đô thị trực thuộc Tỉnh, mật độ dân cư 12.000 người/km2 trở lên (đô thị trực thuộc Trung ương) và 10.000 người/km2 (đô thị trực thuộc Tỉnh), tỷ lệ lao động phi nông nghiệp nội thành tối thiểu đạt 85% so với tổng số lao động. Điều 11: Đô thị loại 2: Quy mô dân số phải đạt 300.000 người trở lên (800.000 người trong trường hợp đô thị loại 2 trực thuộc Trung ương); mật độ dân cư đạt từ 10.000 người/km2 (trực thuộc Trung ương), 8.000 người/km2(trực thuộc Tỉnh), tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 80% trở lên. Điều 12: Đô thị loại 3: Quy mô dân số 150.000 người trở lên, mật độ dân số nội thành, nội thị 6.000 người/km2 trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đạt từ 75% trở lên. Điều 13: Đô thị loại 4: Quy mô dân số 50.000 người trở lên, mật độ dân cư nội thị 4.000 người/km2 trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đạt từ 70%.
Điều 14: Đô thị loại 5: Quy mô dân số 40.000 người trở lên, mật độ dân số từ 2.000 người/km2 trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tại các khu phố xây dựng đạt tối thiểu 65% [10]. n 5 Như vậy, khu vực nông thôn được xác định là khu vực nằm ngoài các tiêu chí trên. Tuy nhiên, việc phân biệt nông thôn và đô thị theo các tiêu chí chỉ có tính chất tương đối. Vì giữa nông thôn và đô thị trong nhiều trường hợp không hoàn toàn tách biệt nhau mà có sự xen ghép, nối tiếp, chồng gối nhau về mặt lănh thổ, đất đai, địa bàn dân cư, về các hoạt động kinh tế xã hội giữa nông thôn và đô thị.Vậy khái niệm vùng nông thôn bao gồm nhiều mặt có quan hệ chặt chẽ với nhau, mà từng tiêu chí riêng lẻ không thể nói lên một cách đầy đủ được [6].
Từ đó, khái niệm vùng nông thôn có thể được diễn đạt như sau: “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác” [4]. Khái niệm trên đây chưa phải đã hoàn chỉnh nếu không đặt nó trong điều kiện thời gian và không gian nhất định tức là khái niệm vùng nông thôn chỉ có tính chất tương đối thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới. Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan điểm khác nhau. Đã có nhiều nghiên cứu và triển khai ứng dụng thuật ngữ này ở các quốc gia trên thế giới.
Ở Việt Nam thuật ngữ PTNT được đề cập đến từ lâu và có sự thay đổi qua các thời kỳ khác nhau. Tuy nhiên, nhìn dưới góc độ lý luận quản lý, chúng ta vẫn chưa có sự tổng hợp lý luận hệ thống về thuật ngữ này. Nhiều tổ chức phát triển quốc tế đã nghiên cứu và vận dụng thuật ngữ này ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.