mở đầu thật ấn tượng, phải đạt được mục tiêu từ sự bất ngờ mang đến niềm đam mê, khám phá; luôn luôn tạo cảm giác “ai cũng là trung tâm và có trách nhiệm với hành động của mình” bằng cách tạo thật nhiều công việc, nhiều cơ hội để các hội viên thể hiện, để không ai cảm thấy lạc lõng trong tổ chức. Kết thúc mỗi hoạt động cần để lại một ấn tượng đẹp đối với người tham gia và tạo động lực cho những lần hoạt động tiếp theo. Phát hiện 6: Hệ thống CLB phải được xây dựng theo phương châm lấy hiệu quả làm căn cứ, tránh việc xây dựng CLB một cách hình thức, phô trương. Cụ thể, khi tổ chức một chương trình hãy lập kế hoạch cho các hoạt động cần phải xác định các nội dung sau: - Mục tiêu tổ chức sinh hoạt cộng đồng, kỹ năng… cụ thể, cần phải có định hướng sát với mục tiêu ban đầu đặt ra của các CLB/Đ/N.
- Có đủ thời gian thảo luận và những quyết định mang tính cân nhắc sự lợi hại và sự phát triển ra sao, tác động của các hoạt động đó đến đâu. - Lập kế hoạch, chương trình, kinh phí hoạt động, thành lập Ban chỉ đạo… mang tính dự thảo thật cụ thể, chi tiết để tìm điều kiện cần và đủ đi đến việc tổ chức các hoạt động của CLB/Đ/N. - Một cá nhân độc lập không có đủ kiến thức và kĩ năng để hoàn thành mục tiêu, vì vậy, cần có một ekip đó là: Ban chủ nhiệm, Ban điều hành, thành viên nòng cốt ban đầu… Làm việc theo ekip có thể đưa ra quyết định đúng và duy trì tinh thần trong CLB/Đ/N về sau. - Kết quả công việc ekip phải tác động đến CLB/Đ/N cả chiều ngang lẫn chiều sâu và được các đội viên thừa nhận và đánh giá tốt.
Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 20 - Những quyết định của Ban chủ nhiệm, Ban điều hành phải có chất lượng hơn và phải có nhiều hoạt động hơn so với làm việc cá nhân. - Cần có sự đa dạng về trình độ và kinh nghiệm của những người trong ekip để đưa ra những quyết định tối ưu dẫn đến xác định thời điểm tổ chức các hoạt động của CLB/Đ/N. Phát hiện nghiên cứu 7: Đoàn, Hội các cấp và ban điều hành, ban cán sự, ban chủ nhiệm các CLB/Đ/N cần có chiến lược quảng bá hoạt động của CLB/Đ/N; đồng thời, sinh viên cần nghiên cứu kỹ càng để đăng ký và tham gia có hiệu quả, bền vững các hoạt động của CLB/Đ/N. Sinh viên vừa là thành viên tham gia vừa chính là nhân tố tích cực để duy trì hoạt động của các CLB/Đ/N.
Phát hiện nghiên cứu 8: Nhà trường cần quan tâm, chăm lo, chỉ đạo thường xuyên các hoạt động của Đoàn, Hội; tạo điều kiện tối đa cho các hoạt động CLB/Đ/N sinh viên hoạt động. Xem đây là một trong những biện pháp tối ưu để tập hợp, quản lý sinh viên, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho mỗi sinh viên, đáp ứng được nhu cầu từ xã hội, nâng cao vị thế và chất lượng nguồn nhân lực do trường đào tạo. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Mô hình CLB/Đ/N đã có nhiều đóng góp thiết thực vào sự phát triển của phong trào Đoàn, Hội cũng như góp phần cải thiện và nâng cao kỹ năng mềm cho sinh viên và cần được nhân rộng, phát triển hơn nữa. Hiệu quả hoạt động từ việc triển khai các mô hình CLB/Đ/N là một chuỗi các hoạt động nhằm triển khai các chương trình, cuộc vận động của Đoàn, Hội thông qua nhiều công trình, phần việc thanh niên, ý nghĩa thiết thực vào đời sống.
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu ở 3 mảng trên, nhóm nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng: Các bài nghiên cứu trên đã đi vào được những vấn đề có trong hoạt động rèn luyện của sinh viên hiện đại. Các hoạt động rèn luyện đó có thể là hoạt động tình nguyện, hoạt động tham gia sinh hoạt ngoại khóa, tham gia các CLB đội nhóm, rèn luyện kỹ năng mềm, trau dồi học thuật,. Sự phát triển, sáng tạo ngày càng đa dạng trong các hoạt động rèn luyện cho thấy vai trò, lợi ích mang lại từ hoạt động rèn luyện rất lớn và ngày càng phát triển sâu rộng hơn nữa. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính, các bài nghiên cứu đã phân tích, làm rõ, đưa ra những lập luận dẫn chứng nhằm khảo sát, đánh giá được đề tài nghiên cứu.
Từ đó, cho ra những định nghĩa, thông tin Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 21 tin cậy, xác thực về những hoạt động rèn luyện của sinh viên. Tạo điều kiện, tài liệu cho những nghiên cứu chuyên sâu về sau phát triển. Những bài nghiên cứu, báo cáo trên có mối quan hệ khá mật thiết với chủ đề nghiên cứu hiện tại, nó tương hỗ, bổ sung cho nhau để đưa ra những giá trị thống nhất. Từ đó, nhóm chúng tôi rút ra những hạn chế chung của những nghiên cứu trên: Các nghiên cứu trên được nghiên cứu theo phương pháp định tính, còn nằm trên mặt tìm hiểu lý thuyết, chưa đi sâu vào khảo sát lấy số liệu thực tiễn.
Bên cạnh đó, sự thay đổi về môi trường bên ngoài, cụ thể là tình hình dịch bệnh đã tạo nên nhiều lỗ hổng, thiếu sót trong nghiên cứu, yêu cầu những nghiên cứu mới phù hợp với điều kiện thực tiễn của xã hội để hoạt động rèn luyện được phát triển phù hợp, không bị trì trệ hay gò bó bởi bất kỳ lý do nào. Do đó, để tìm hiểu được sự thay đổi trong hình thức tổ chức, cách thức tham gia, thực trạng tham gia, tâm lý sinh viên tham gia, những thuận lợi và khó khăn khi phải hoạt động thông qua internet,.Bài nghiên cứu với chủ đề “Thực trạng tham gia hoạt động rèn luyện của sinh viên trong đại dịch Covid-19” (cụ thể là sinh viên Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) được thực hiện nhằm cho ra một bài nghiên cứu chất lượng, phù hợp với tình hình mới cũng như khắc phục, bù đắp những hạn chế của những nghiên cứu có trước. Sự ảnh hưởng của dịch bệnh đến hoạt động rèn luyện là vô cùng quan trọng, nên cần thiết lúc này là có 1 đề tài nghiên cứu về thực trạng hoạt động ngoại khóa cũng như nêu ra được giải pháp cho những vấn đề đó(Nói tóm gọn lại là vấn đề này tuy rất được quan tâm nhưng lại chưa có nhiều bài nghiên cứu về nó, đa phần chỉ là những buổi thảo luận, tham luận của các tổ chức Đoàn Thanh niên – Hội sinh viên các cấp, nhằm đến việc nâng cao chất lượng phong trào sinh viên). Vì vậy, cần phải có những nghiên cứu, khảo sát thực tiễn đi sâu vào những hoạt động rèn luyện của sinh viên trong dịch Covid- 19.
=>Hạn chế của đề tài nghiên cứu: Chưa thấy được thực trạng và giải pháp khắc phục trong bối cảnh Covid-19 3. Mục tiêu nghiên cứu Tìm hiểu thực trạng tham gia hoạt động ngoại khóa của sinh viên trong bối cảnh đại dịch Covid-19 (Trường hợp sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Từ đó đề xuất các khuyến nghị về vấn đề này. Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.
Phạm vi nghiên cứu Không gian: Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Thời gian: Đại dịch Covid-19 – Đợt dịch lần 4 Nội dung: Thực trạng tham gia hoạt động ngoại khóa của sinh viên Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Mẫu khảo sát Thu thập 150 đơn vị mẫu khảo sát + Đơn vị mẫu: Sinh viên Trường ĐH KHXH&NV- ĐHQGTPHCM + Cách chọn mẫu: sử dụng phương pháp phi xác suất – thuận tiện để nghiên cứu đề tài + Hình thức thu thập mẫu: sử dụng Google Form với những câu hỏi cần thiết xoay quanh những vấn đề về đề tài như quy mô, cách thức tiếp cận, thuận lợi, khó khăn,. Được nhóm đăng tải trực tuyến trên mạng xã hội để thu thập thông tin. Thời gian: từ lúc mở form cho đến khi thu hoạch đủ số lượng mẫu cần thiết.
Câu hỏi nghiên cứu Câu hỏi nghiên cứu được nhóm đặt ra nhằm thu thập những thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu với các mảng như: hoạt động ngoại khóa, hoạt động tình nguyện, hoạt động nhằm nâng cao kỹ năng mềm cho sinh viên, hoạt động ngoại khóa do Đoàn/Hội/Nhà trường/Câu lạc bộ tổ chức xoay quanh những vấn đề như: quy mô hoạt động, cách thức tiếp cận, khó khăn, thuận lợi,.cùng với một số câu hỏi mở về biện pháp, giải pháp khắc phục hạn chế khó khăn. Một số câu hỏi ví dụ như: - Trong bối cảnh dịch bệnh, sinh viên tham gia hoạt động ngoại khóa ở những phương diện nào? - Quy mô tổ chức các hoạt động ngoại khóa thay đổi như thế nào? - Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình tham gia hoạt động ngoại khóa thời kỳ Covid-19 lần thứ 4 Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 23 - Giải pháp khắc phục, hạn chế khó khăn khi tham gia hoạt động ngoại khóa trong mùa dịch 7. Giả thuyết nghiên cứu a. Không có bất kỳ ảnh hưởng của dịch bệnh Covid19 đến hoạt động ngoại khóa.
Sinh viên không tham gia hoạt động ngoại khoá do sự lười biếng. Quy mô hoạt động ngoại khoá càng lớn, sinh viên càng tham gia nhiều. Một sinh viên tham gia hoạt động ngoại khóa trong thời điểm dịch sẽ có được nhiều lợi ích hơn so với thời điểm không có dịch bệnh. Phương pháp nghiên cứu Để tiến hành nghiên cứu đề tài, nhóm chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản.
Đó là: - Phương pháp nghiên cứu tài liệu là sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu của dữ liệu sơ cấp và phương pháp thu thập dữ liệu của dữ liệu thứ cấp. Số liệu sơ cấp thu thập bằng việc phỏng vấn các bạn sinh viên qua bảng câu hỏi được xây dựng dựa trên cơ sở đề tài nghiên cứu nhằm thu thập thông tin đưa vào phân tích và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn tài liệu nghiên cứu đã được công bố sẵn nhằm cung cấp các thông tin để thực hiện đánh giá, so sánh các thông tin của bài nghiên cứu theo một hướng đa chiều. - Phương pháp xử lý dữ liệu: + Dữ liệu sơ cấp: thu thập từ khảo sát bảng hỏi (sau khi đã soát phiếu) sử dụng bản tóm tắt và bảng trả lời của Google Form để xử lý dữ liệu.
Bên cạnh đó, còn sử dụng phương pháp xử lý số liệu thủ công.