Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về sức khoẻ Tuyên ngôn Alma- Ata (1978) của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì “Sức khoẻ là một tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội mà không chỉ giới hạn ở việc không mắc bệnh hoặc tật” [26]. Tuyên ngôn còn nhấn mạnh rằng: “Mọi người đều có quyền và đều có nhiệm vụ tham gia với tư cách cá nhân hoặc tư cách tập thể vào việc hoạch định và thực hiện chăm sóc sức khoẻ cho cuộc sống riêng của mình". Đến năm 1986, tại Hội nghị Ottawa định nghĩa này đã được WHO mở rộng, trong đó sức khoẻ còn phải tính đến “quyền con người”, “sự bảo vệ của xã hội”, “thu nhập tối thiểu”, “nhà ở hợp lý”.Như vậy để có sức khoẻ cần phải có một lối sống lành mạnh và những hoạt động y tế công cộng hiệu quả.
Trên lĩnh vực khám chữa bệnh đòi hỏi phải có một hệ thống cung ứng dịch vụ thuận tiện, phù họp và chất lượng [26]. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ Sức khỏe bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, tuy nhiên WHO đưa ra 4 nhóm yếu tố quan trọng bao gồm: yếu tố sinh học (nội sinh) của các cá thể, yếu tố môi trường sống, yếu tố thuộc hành vi và lối sống của người dân và nhóm yếu tố thuộc về dịch vụ y tế [26]. Trong đó muốn cải thiện và nâng cao sức khỏe cho người dân thì ngoài các yếu tố có liên quan đến cá nhân thì về phía dịch vụ y tế đóng vai trò vô cùng quan trọng. Dịch vụ y tế sẽ tác động trực tiếp tới sức khỏe của người dân qua các dịch vụ phòng bệnh và điều trị.
Cũng theo WHO trong lĩnh vực cung cấp và phân phối dịch vụ có 2 vấn đề chính cần quan tâm: thứ nhất là xác định quy trình ưu tiên, thứ hai là nâng cao sức mua và đề ra những cơ chế khuyến khích mới của nhà nước đối với Tổ chức y tể công và tư [26]. Bên cạnh đó, trong việc cung cấp dịch vụ cần quan tâm nhiều đến chất lượng vì nó là yếu tổ quyết định đối với thành công của một dịch vụ y tế. Không những thế, đe hấp dẫn bệnh nhân, người cung cấp dịch vụ cũng cần quan tâm đến sự thuận tiện của dịch vụ, thiết lập mối quan hệ tốt giữa người sử dụng và người cung cấp dịch vụ. Tình hình sức khỏe, bệnh tật và tử vong.
Trong những năm qua, nước ta đã giành được nhiều thành quả to lớn về nhiều mặt như kinh tế, chính trị, xã hội và đặc biệt trong lĩnh vực Y tế là một thành công vượt bậc. Các chỉ sổ sức khỏe cơ bản của Việt Nam đều cao hơn nhiều so với các nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người và xấp xỉ bằng những nước châu Á khác có mức thu nhập cao gấp 2 lần nước ta. Tính đến năm 2004, tuổi thọ bình quân nước ta đã đạt 73,1 tuổi, cao hơn hầu hết các nước đông nam Á kể cả Thái Lan (71), chỉ đứng sau Singapore (79) và Brunei (76) [6]; [7]. Các tỷ suất chết mẹ và trẻ em đã giảm xấp xỉ 2 lần trong vòng 10-15 năm: tỷ suất chết mẹ giảm từ 2%0 trẻ đẻ sống (năm 1980) xuống còn l%0 (năm 1999); tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi giảm từ 70%0 và tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi 81 %0 trẻ đẻ ra sống năm 1985 xuống còn 36,7%0 và 42%0 năm 1999.
Nhìn chung, chúng ta đã đạt được các chỉ tiêu tổng quát về sức khoẻ tốt hơn nhiều so với các nước có cùng thu nhập bình quân đầu người, góp phần làm tăng đáng kể chỉ số phát triển con người (HDI) [7]. Cùng với sự thay đổi kinh tế xã hội, mô hình bệnh tật cũng có những thay đổi nhất định. Đó là sự giảm dần của các bệnh truyền nhiễm và tăng dần các bệnh không lây như tim mạch, tiểu đường, ung thư, tai nạn thương tích và các bệnh mới xuất hiện trên toàn cầu như SARS, cúm gia cầm.Theo thống kê cho thấy, các bệnh truyền nhiễm đã giảm từ 56% (1976) xuống còn 27% (1999) trong tổng số các trường họp khám và điều trị; trong khi đó tỷ lệ các bệnh không lây tăng từ 43% (1976) lên 54%(1999) và tỷ lệ các bệnh nhóm chấn thương tăng từ 1,8% (1976) lên 9% (1999). Ngoài ra, một số bệnh truyền nhiễm khác có xu hướng quay trở lại như lao, sốt rét.
Không những thể, đại dịch HIV/AIDS cùng với tệ nạn ma tý, mại dâm có chiều hướng tăng nhanh đang là một thách thức đối nước ta trong giai đoạn hiện nay [1], [7]. Những số liệu này cho thấy tình hình dịch tễ học và bệnh tật của Việt Nam đang có sự chuyển đổi khá nhanh trong những năm qua. Một mặt là do sự nỗ lực của nước ta trong việc khống chế thành công các bệnh nhiễm trùng bằng hàng loạt các Chương trình Y tế Quốc gia như tiêm chủng mở rộng, ARI, CDD, lao, phong, sốt rét v. Mặt khác số liệu cũng cho thấy có sự gia tăng của các bệnh 7 không lây, tai nạn, chấn thương.
Đây là những vấn đề sức khỏe phải đối mặt khi nước ta đang từng bước tiến tới Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước và mức sổng của người dân ngày càng được cải thiện hơn. Hệ thống Y tế Tổ chức hệ thống Y tế công ở nước ta được tổ chức làm 4 cấp độ chủ quản: Trung ương, tỉnh, huyện và xã. Theo hệ thống phân tuyến chuyên môn thì hệ thống Y tế được chia làm 03 tuyến: tuyến trung ương, tuyến tỉnh và tuyến cơ sở. Theo Niên giám thống kê, năm 1995 cả nước có 12.972 cơ sở Y tế thì năm 2004 cả nước đã có 13.149 cơ sở và năm 2006 là 13.
Đội ngũ cán bộ y tế cũng tăng nhanh: số bác sỹ năm 1995 là 30,6 nghìn người và năm 2004 là 50.1 nghìn người; năm 2006 là 52.8 nghìn người. Dược sỹ Đại học năm 2004 là 5.6 nghìn người; năm 2006 là 5.5 nghìn người. Y sỹ năm 1995 là 45 nghìn người và năm 2004 là 49.2 nghìn người; năm 2006 là 48.8 nghìn người, số bác sỹ bình quân cho 1 vạn dân năm 1995 là 4,3 và năm 2004 là 6,1 và năm 2006 là 6,3 [6]. Số bác sỹ và dược sỹ Đại học trong giai đoạn 1995-2004 Năm 1995 2000 2001 2002 2003 2004 Bác sỹ/ nghìn dân 30,6 53.8 Dược sỹ/ nghìn dân 5,7 7.8 Y, Bác sỹ/ 1 vạn dân - 11.74 Nguồn: Niên giảmThống kê Y tể 1995, 2004 Ó mỗi vùng và khu vực thì số cán bộ y tể cũng phân bổ khác nhau.
Tuy nhiên trong thực tế, xu hướng phát triển kinh tế và môi trường làm việc thuận lợi, phần lớn các cán bộ y tế đã tìm cách chuyển từ nông thôn ra thành thị, từ thị xã ra thành phố, tỉnh ra trung ương. Do đó, ở các vùng sâu, vùng xa và vùng nông thôn thì cán bộ y tế vừa thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Y tế tuyến huyện và TYT xã kể cả y tế thôn bản được gọi là Y tế cơ sở, là nơi chăm sóc sức khoẻ đầu tiên và cơ bản cho nhân dân. Hiện nay cả nước có trên 600 quận/ huyện, mỗi quận/ huyện có ít nhất một bệnh viện đa khoa với từ 50 đến 200 giường bệnh.
Ngoài ra còn có các phòng khám đa khoa khu vực, bệnh viện 8 ngành và 10. Vào tháng 09 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nghị định số 171 và 172/2004/NĐ-CP, Tổ chức lại hoạt động của các Trung tâm Y tế. Kể từ thời điểm này mạng lưới Y tế tuyến cơ sở sẽ bao gồm: Phòng Y tế quận/ huyện thực hiện vai trò quản lý nhà nước về y tế tại địa phương, Bệnh viện huyện thực hiện chức năng khám chữa bệnh và Trung tâm Y tể dự phòng tuyến huyện thực hiện chức năng phòng ngừa dịch bệnh trên địa bàn tại địa phương và các TYT xã, phường. Vai trò Y tế cơ sở trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu Hội nghị Quốc tế về Y tế cơ sở (YTCS) họp tại Alma- Ata năm 1978 đã xác định: "Chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) là chìa khoá để mang lại sức khỏe cho mọi nhà" [8];[10] và CSSKBĐ được khái quát thành định nghĩa như sau: “CSSKBĐ là CSSK thiết yếu dựa trên cơ sở thực tiễn, có cơ sở khoa học và chấp nhận được về mặt xã hội, có thể phổ cập tới các cá nhân, gia đình và cộng đồng thông qua sự tham gia đầy đủ của họ với chi phí mà cộng đồng và nước đó có thể chấp nhận được đế duy trì hoạt động CSSK ở mọi giai đoạn phát triển trên tinh thần tự nguyện, tự giác” [11], [12], CSSKBĐ là một hệ thống quan điểm với 7 nguyên tắc: công bằng, phát triển, tự lực, kỹ thuật phù hợp, dự phòng thích hợp, hoạt động liên ngành và cộng đồng tham gia [13], gồm 8 nội dung: giáo dục sức khỏe; cải thiện điều kiện dinh dưỡng - ăn uống; cung cấp nước sạch - thanh khiết mội trường; bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em- kế hoạch hoá gia đình; tiêm chủng mở rộng; phòng chống bệnh dịch lưu hành; khám chữa bệnh và thương tích thông thường; cung cấp thuốc thiết yếu.
Ở nước ta ngoài việc thực hiện 8 nội dung trên, chúng ta còn bổ xung thêm 2 nội dung là: Củng cố màng lưới y tế cơ sở và quản lý sức khỏe [12], Tại kỳ họp thứ 4, Ban chấp hành TW Đảng khoá VII đã có Nghị quyết về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, trong đó nhấn mạnh vai trò quan trọng của công tác CSSKBĐ và củng cố YTCS. Ngày 20 tháng 06 năm 1996, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 37/CP về định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong giai đoạn 1996 9 đến năm 2000 và 2020 đã xác định: “CSSKBĐ là một công tác trọng yếu để đạt được các mục tiêu quản lý tỷ lệ mắc bệnh, giảm tỷ lệ tử vong, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng, tăng cường sức khỏe và thể lực, tăng tuổi thọ, tạo điều kiện để mọi người dân đều được hưởng một cách công bằng những dịch vụ CSSK”[13]. Như vậy, củng cố và hoàn thiện YTCS có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng trong hệ thống y tế nhà nước, góp phần quyết định sự thành công đối với công tác CSSKBĐ, đây là tuyến gần dân nhất, tiếp cận được với đối tượng đông đảo nhất.