ĐẶT VẤN ĐỀ Stress là trạng thái cơ thể khi ứng phó với những hoàn cảnh, điều kiện mới, khi đối mặt với những tình huống hoặc là hậu quả của những tác động không mong muốn hoặc mối nguy từ môi trường bên ngoài [4]. Stress là hiện tượng phổ biến xảy ra đối với hầu hết mọi người ở nhiều giai đoạn trong cuộc đời. Tuy nhiên, nếu stress kéo dài liên tục sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe và cuộc sống của mỗi người. Vì vậy, nhận biết các dấu hiệu của stress, xác định được nguyên nhân và mức độ của stress sẽ giúp mọi người cải thiện sức khỏe một cách hiệu quả cả về sức khỏe tâm thần và thể lực [16].
Sinh viên là một trong các đối tượng có tỷ lệ mắc stress cao. Theo các nghiên cứu ở Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy có tới 38% - 48% số sinh viên báo cáo là có stress, trong đó có khoảng 11% số sinh viên ở mức stress nặng và rất nặng [30]. Đặc biệt là sinh viên trường Y với chương trình học cả lý thuyết trên lớp và đi thực tập tại các cơ sở y tế, trực tại bệnh viện với mức độ làm việc căng thẳng. Vì vậy tỷ lệ stress ở sinh viên trường Y có thể cao hơn so với sinh viên các ngành khác.
Nghiên cứu cắt ngang trên sinh viên trường Y của một trường Đại học ở Sauud, A Rập cho kết quả là 63% sinh viên bị stress trong đó có 25% sinh viên bị stress nặng [27]. Ở Việt Nam, theo kết quả từ một số nghiên cứu cho thấy tình trạng stress ở sinh viên rất đáng lo ngại. Tỉ lệ stress trong sinh viên trường Cao Đẳng Y Tế Thái Nguyên năm 2016 là 55,6% [26]; ở sinh viên năm thứ 2, trường Đại học Y dược TP. Stress ở sinh viên sẽ ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và tiếp tục theo một vòng xoắn stress - sức khỏe - stress [19].
Sức khỏe yếu đi dẫn đến tâm lý mệt mỏi và hiệu quả học tập của sinh viên thấp. Hiện trạng này lại là yếu tố tạo thêm áp lực mới cho học tập và như thế, tiếp tục dẫn đến đến vòng xoắn áp lực mới nếu đối tượng không có kiến thức và kỹ năng ứng phó. Vì vậy, can thiệp giảm nhẹ stress là hoạt động rất quan trọng đối với sinh viên và cho cộng đồng nói chung. Trường cao đẳng Y tế Phú Yên được thành lập từ năm 2014 với chức năng đào tạo hệ cao đẳng cho 2 ngành là Dược và Điều dưỡng.
Mỗi năm trường tuyển sinh khoảng 2 1000 sinh viên cao đẳng chính quy và liên thông. Kết quả đánh giá hết mỗi môn học của sinh viên năm 2017 cho thấy lịch học dày, cường độ học tập cao, lịch thực tập bệnh viện nhiều tạo áp lực học tập đối với sinh viên. Trong số 355 sinh viên được đánh giá có đến 178 sinh viên cảm thấy áp lực với lịch học lý thuyết, 176 sinh viên áp lực với lịch trực tại bệnh viện, 82 sinh viên căng thẳng với năm học thứ hai. Những điều này tạo ra yếu tố gây stress trong quá trình hình tập của sinh viên.
Vì vậy câu hỏi đặt ra là thực trạng stress của sinh viên tại Trường như thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến stress của sinh viên. Để trả lời câu hỏi này nghiên cứu “Thực trạng stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Phú Yên năm 2018 và một số yếu tố liên quan” được tiến hành để có được những cơ sở nhằm đề xuất một số giải pháp góp phần giảm tình trạng stress, nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả tình trạng stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Phú Yên năm 2018.
Xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Phú Yên năm 2018. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm stress Trong cuộc sống hiện đại thuật ngữ stress xuất hiện ngày càng nhiều, mỗi tác giả sử dụng thuật ngữ này với những sắc thái khác nhau. Waher Canon, bác sĩ chuyên khoa thần kinh ở Mỹ, định nghĩa stress là biểu hiện của sự khó chịu hay những áp lực của đời sống gia đình, cá nhân [26].
Định nghĩa của nhà sinh lý học người Hung-ga-ri Hans Selye “stress là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng”. Hans Selye nhấn mạnh: stress có tính chất tổng hợp chứ không phải chỉ thể hiện trong một trạng thái bệnh lý. Cũng theo ông, stress có mặt lợi đó là kích thích tính tích cực, huy động sức mạnh để con người vượt qua các khó khăn, nhưng cũng có mặt hại nếu vượt qua khả năng đáp ứng của cơ thể sẽ dẫn đến tình trạng ốm đau, bệnh tật. Nhìn chung khi bị stress con người có những thay đổi cả về thể chất và tâm lý (nhận thức, cảm xúc, hành vi).
Về thể chất đó là những thay đổi ở hệ tim mạch, thần kinh, tiêu hóa, hô hấp, tiết niệu. như tim đập nhanh, vã mồ hôi, chóng mặt, nhức đầu, rối loạn giấc ngủ, chán ăn, căng mỏi cơ bắp, đau nhức xương khớp, đau dạ dày và buồn nôn, nôn. Về mặt tâm lý thể hiện sự thay đổi hoạt động của các quá trình nhận thức, cảm xúc và hành vi như giảm sự tập trung, lơ đãng, hay quên, suy nghĩ kém linh hoạt, mệt mỏi về tinh thần và trí lực giảm sút, cảm giác về học tập, công việc bị áp lực đè nặng, tinh thần hoang mang, buồn chán. Với tình trạng bình thường hiện tượng stress là một đáp ứng để thích nghi về mặt tâm lý, sinh học và tập tính.
Nó đặt con người vào hoạt động như dàn xếp, thích ứng với môi trường xung quanh, tạo ra một sự cân bằng mới sau khi chịu đựng những tác động từ môi trường. Stress góp phần làm cho cơ thể thích nghi, nếu sự đáp ứng của cá nhân với stress không đầy đủ, không phù hợp và cơ thể chưa có được một cân bằng mới thì những chức năng của cơ thể ít nhiều sẽ bị ảnh hưởng, những dấu hiệu bệnh lý, tâm lý, tập tính sẽ xuất hiện và tạo ra những stress bệnh lý cấp tính hoặc kéo dài [8]. Theo Giáo sư Ferreri thì stress được hiểu là mối liên quan giữa con người với môi trường xung quanh. Stress vừa chỉ tác nhân công kích vừa chỉ phản ứng của cơ thể trước 5 tác nhân đó.
Do đó, stress là mối tương tác giữa tác nhân công kích và phản ứng của cơ thể [21]. Ở Việt Nam, Giáo Sư Tô Như Khuê, người đã nhiều năm nghiên cứu sự căng thẳng cảm xúc của các chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam trong chiến đấu cho rằng: “Stress tâm lý cũng chính là những phản ứng tâm lý không đặc hiệu xảy ra một cách chung khắp, do các yếu tố có hại về tâm lý xuất hiện trong các tình thế mà con người chủ quan thấy là bất lợi hoặc đe dọa, ở đây vai trò quyết định không chủ yếu do tác nhân kích thích, mà do sự đánh giá chủ quan về tác nhân đó” [19]. Theo Trần Anh Thụ, stress phải được hiểu một cách tổng hợp, vừa như một kích thích, vừa như một hậu quả kèm theo; đồng thời đề cập stress với các yếu tố sinh học, xã hội và tâm lý trong ứng phó. Stress là một tình trạng gây khó chịu hoặc gây thương tổn về cảm xúc và tinh thần, xảy ra khi cá nhân phản ứng lại những kích thích hoặc tình huống cực kỳ khó khăn, nhiều áp lực và căng thẳng do tác động từ bên ngoài; Trong thực tế, stress còn được dùng để chỉ một nguyên nhân, tác nhân gây ra phản ứng stress (như bệnh tật, công việc, sự thay đổi chỗ ở, tiếng ồn của thành phố…).
Đồng thời là hậu quả của những tác nhân gây kích thích mạnh như sự hốt hoảng khi gặp các biến cố bất ngờ, sự cô quạnh trong môi trường sống: tình trạng căng thẳng khi gặp khó khăn, áp lực trong công việc [16]. Như vậy, có thể hiểu tình trạng stress bao gồm hai thành phần chính là: (1) tình huống stress dùng để chỉ tác nhân kích thích gây ra stress (Stressor) và (2) đáp ứng stress dùng để chỉ trạng thái cơ thể phản ứng với stress (Reaction), gồm cả phản ứng sinh lý và tâm lý. Những biểu hiện của stress Biểu hiện của trạng thái stress về cơ bản chia làm 4 nhóm biểu hiện về mặt cơ thể, trí tuệ, cảm xúc và hành vi [4], [5]. Nhóm ảnh hưởng về cơ thể: Khi ở trong trạng thái stress, cơ thể thường có biểu hiện như mệt mỏi, đau đầu, đau lưng, đau cơ bắp, chóng mặt, tức ngực, khó thở, chân tay bủn rủn, không ăn ngoan, ăn quá nhiều hoặc quá ít, khó ngủ, tim đập nhanh… 6 Nhóm ảnh hưởng về trí tuệ: Stress ảnh hưởng khá nghiêm trọng đến trí tuệ của mỗi người, các biểu hiện thường thấy như mất khả năng tập trung, liên tưởng chậm, phán đoán không chính xác, trí nhớ giảm sút… [14] Nhóm ảnh hưởng về cảm xúc: trạng thái stress thường biểu hiện rõ với các biểu hiện thường gặp như: lo âu, dễ nổi nóng, hồi hộp, chán nãn, sợ hãi, không hài lòng với bản thân, cảm thấy trống rỗng mất phương hướng, cảm thấy bản thân dễ bị tổn thương, căng thẳng… Nhóm ảnh hưởng về hành vi: Khi bị stress, các biểu hiện hành vi thường gặp như là hạn chế tham gia các hoạt động, căng thẳng tranh luận quá khích, né tránh học tập, diễn đạt không lưu lót, ngại tiếp xúc [14].
Nguyên nhân của stress Theo quan điểm hệ thống về stress, một cá nhân bị stress là do bản chất của các sự kiện kích thích và do những yếu tố thuộc về cá nhân quyết định mức độ stress của cá nhân đó vì vậy có hai nhóm nguyên nhân gây stress là nguyên nhân khách quan (nguyên nhân bên ngoài cá nhân), và nguyên nhân chủ quan (tự bản thân) [16]. Nguyên nhân khách quan cụ thể gây stress Chủ yếu do 3 yếu tố chính: Môi trường sinh thái; Môi trường xã hội và Các mối quan hệ cá nhân trong xã hội. Stress do môi trường sinh thái: Những yếu tố có nguồn gốc sinh thái góp phần gây nên stress, nó phát sinh từ mối quan hệ giữa môi trường bên ngoài và bên trong cơ thể. Cụ thể là do (1) rối loạn chu kỳ sinh học, rối loạn ăn ngủ; (2) do suy giảm khả năng thích ứng với môi trường vì chấn thương và bệnh tật làm giảm khả năng chống đỡ với stress, đồng thời những nhận thức về mối đe dọa thể chất, tâm lý xã hội hoặc lo lắng về tình trạng sức khỏe cũng làm gia tăng thêm stress và bệnh tật càng nặng thêm.