Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng căng thẳng nghề nghiệp tại các cơ sở y tế công lập đang là thách thức nghiêm trọng đối với hệ thống y tế hiện đại, trực tiếp đe dọa đến sức khỏe nhân viên và an toàn người bệnh. Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng, một cơ sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh quy mô 590 giường bệnh với hơn 700 cán bộ y tế, áp lực công việc gia tăng mạnh mẽ khi hàng năm tiếp đón hơn 300.000 lượt khám và điều trị nội trú cho gần 43.000 bệnh nhân. Trong guồng quay áp lực đó, đội ngũ điều dưỡng chiếm tỷ trọng nhân lực lớn nhất nhưng cũng là nhóm đối tượng chịu nhiều sang chấn tâm lý nhất.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả thực trạng căng thẳng tâm lý và phân tích các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp tác động đến điều dưỡng đang công tác tại bệnh viện trong giai đoạn từ tháng 4 năm 2020 đến tháng 7 năm 2020. Kết quả ghi nhận có tới 43,5% điều dưỡng gặp tình trạng stress từ mức độ nhẹ đến rất nặng. Việc xác định các chỉ số stress không chỉ đo lường gánh nặng sức khỏe tâm thần của 287 điều dưỡng tham gia khảo sát mà còn cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho công tác quản trị nhân lực bệnh viện. Đề tài đóng vai trò nền tảng giúp thiết lập các chính sách bảo vệ sức khỏe nghề nghiệp, giảm thiểu 100% các sự cố y khoa xuất phát từ tình trạng kiệt sức và nâng cao toàn diện chất lượng chăm sóc lâm sàng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết đáp ứng thích ứng chung của Hans Selye khởi xướng năm 1936 kết hợp cùng mô hình 6 nhóm nguyên nhân gây căng thẳng lao động của Cooper CL công bố năm 1988. Các mô hình này chỉ rõ stress là phản ứng sinh lý và tâm lý không đặc hiệu của cơ thể trước các đòi hỏi vượt quá khả năng thích ứng, hình thành từ sự mất cân bằng giữa yêu cầu công việc và nguồn lực hỗ trợ.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Stress nghề nghiệp y tế: Trạng thái căng thẳng xuất hiện khi các điều kiện làm việc tại bệnh viện tạo áp lực tiêu cực lên thể chất và tinh thần.
  • Yếu tố nguy cơ nghề nghiệp: Tập hợp các tác nhân môi trường, quy trình lâm sàng, giao tiếp và quản lý tạo nên nguy cơ quá tải.
  • Hội chứng kiệt sức nghề nghiệp: Hiện tượng suy kiệt thể lực và chai sạn cảm xúc sau thời gian dài chịu áp lực không được giải tỏa.

Để lượng hóa các khái niệm, nghiên cứu tích hợp thang đo DASS-21 rút gọn với cấu phần 7 câu hỏi chuyên biệt đánh giá stress của Lovibond và thang đo mở rộng ENSS gồm 54 biến số thuộc 8 nhóm nguy cơ nghề nghiệp do French và cộng sự chuẩn hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật định lượng và định tính. Cỡ mẫu định lượng gồm 287 điều dưỡng lâm sàng được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện từ tổng số 303 điều dưỡng thuộc 30 khoa phòng chuyên môn, bảo đảm độ tin cậy với sai số tuyệt đối d = 0,05. Nghiên cứu định tính được triển khai qua phỏng vấn sâu ban lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo phòng điều dưỡng cùng 2 buổi thảo luận nhóm tập trung trên 20 điều dưỡng đại diện cho nhóm có điểm stress cao và nhóm không bị stress.

Số liệu định lượng được làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm EpiData, sau đó xử lý trên phần mềm SPSS phiên bản 18.0. Phương pháp phân tích thống kê mô tả được dùng để tính tỷ lệ phần trăm và điểm trung bình; các kiểm định Chi-square và tỷ số chênh OR được ứng dụng nhằm xác định mối liên quan giữa các biến số với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05. Quy trình thu thập số liệu tuân thủ chuẩn mực y đức theo Quyết định phê duyệt số 154/2020/YTCC-HĐ3 của Hội đồng Đạo đức nghiên cứu Y sinh học Trường Đại học Y tế Công cộng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 287 điều dưỡng ghi nhận tỷ lệ mắc stress chung là 43,5% (125 điều dưỡng). Trong đó, phân bố theo các mức độ nghiêm trọng gồm: stress nhẹ chiếm 13,9% (40 người), stress vừa chiếm 16,1% (46 người), stress nặng chiếm 11,8% (34 người) và stress rất nặng chiếm 1,7% (5 người). Tỷ lệ không mắc stress là 56,5% (162 người).

Đặc điểm nhân khẩu học cho thấy nhóm tuổi 25 đến dưới 35 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 66,21% (190 người); nữ giới chiếm ưu thế tuyệt đối với 90,6% (260 người). Đáng chú ý, có 82,93% điều dưỡng (238 người) thường xuyên phải làm thêm giờ và 62,72% làm việc tại các khu vực điều trị nội trú.

Về các yếu tố nghề nghiệp theo thang đo ENSS, những tác nhân gây căng thẳng hàng đầu bao gồm:

  • Thực hiện các thủ thuật gây đau đớn cho người bệnh: 40,8% điều dưỡng có nguy cơ cao với điểm trung bình 2,36 ± 0,70.
  • Cảm giác bất lực khi không cứu chữa được bệnh nhân: 32,8% ghi nhận nguy cơ với điểm trung bình 2,29 ± 0,76.
  • Gánh nặng công việc hành chính ngoài chuyên môn và sự đòi hỏi thiếu hợp lý từ thân nhân người bệnh.
  • Thói quen sinh hoạt không lành mạnh như hút thuốc lá, uống rượu bia và thiếu tập luyện thể dục có liên quan thuận chiều với nguy cơ gia tăng stress (p < 0,05). Môi trường làm việc có tiếng ồn cao và làm việc tại khu vực khám bệnh làm tăng nguy cơ stress rõ rệt so với các khu vực khác (p < 0,05).

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ stress 43,5% tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng tương đương với phát hiện của Trần Minh Điển tại Bệnh viện Nhi Trung ương (45,2%), nhưng cao hơn đáng kể so với kết quả của Trần Thị Thu Thủy tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (18,5%) và Đậu Thị Tuyết tại Bệnh viện Đa khoa 115 Nghệ An (24,5%). Sự khác biệt này bắt nguồn từ tính chất quá tải cục bộ tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh miền núi, nơi điều dưỡng vừa phải đảm đương chuyên môn chăm sóc toàn diện vừa phải kiêm nhiệm nhiều thủ tục sổ sách hành chính.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh mối tương quan chặt chẽ giữa môi trường áp lực cao và sức khỏe tâm thần, có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ tròn biểu diễn cơ cấu mức độ stress và biểu đồ cột phân tầng so sánh tỷ lệ stress giữa các khoa Hồi sức cấp cứu (26,13% nhân lực) và khu khám bệnh (8,37% nhân lực). Nguyên nhân gốc rễ dẫn đến stress xuất phát từ áp lực tâm lý khi chứng kiến nỗi đau của người bệnh, xung đột phát sinh từ sự kỳ vọng quá lớn của người nhà bệnh nhân và tình trạng thiếu hụt nhân lực dẫn đến việc 82,93% nhân viên phải tăng ca liên tục, làm gián đoạn chu kỳ phục hồi sinh học tự nhiên.

Đề xuất và khuyến nghị

Căn cứ vào các kết quả phân tích thực chứng, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm can thiệp giảm thiểu stress cho đội ngũ điều dưỡng:

  1. Tối ưu hóa tổ chức lao động và giảm tải thủ tục hành chính: Ban Giám đốc bệnh viện và Phòng Điều dưỡng cần rà soát, cắt giảm 20% các quy trình giấy tờ thủ công bằng cách đẩy mạnh ứng dụng bệnh án điện tử. Thiết lập định biên nhân sự chuẩn để bố trí lịch trực 3 ca 4 kíp khoa học, bảo đảm 100% điều dưỡng được nghỉ bù đủ thời gian sau ca trực đêm, hoàn thành trong Quý I năm 2021.

  2. Cải thiện điều kiện môi trường làm việc vật lý: Phòng Hành chính Quản trị triển khai các giải pháp cách âm, xử lý nguồn phát tiếng ồn tại khu vực phòng khám và hồi sức cấp cứu; mở rộng không gian phòng trực, trang bị tiện nghi nghỉ ngơi đạt chuẩn nhằm giảm thiểu 15% mức độ phơi nhiễm tiếng ồn cho nhân viên trong năm 2021.

  3. Xây dựng mạng lưới hỗ trợ tâm lý và chăm sóc sức khỏe định kỳ: Công đoàn bệnh viện phối hợp với Phòng Y tế cơ quan tổ chức khám sức khỏe và đánh giá sàng lọc stress định kỳ 6 tháng một lần cho toàn thể 303 điều dưỡng; thành lập đơn vị tư vấn tâm lý học đường - bệnh viện để kịp thời hỗ trợ các cá nhân có điểm DASS-21 ở mức nặng và rất nặng từ Quý II năm 2021.

  4. Nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng giao tiếp ứng xử: Phòng Điều dưỡng chủ trì tổ chức các khóa tập huấn kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kỹ thuật giảm đau cho bệnh nhân và xử lý xung đột với thân nhân người bệnh cho 100% điều dưỡng trẻ dưới 5 năm thâm niên (chiếm 38,32% nhân lực), thực hiện xuyên suốt giai đoạn 2021-2022.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng và hàm lượng học thuật cao cho các nhóm đối tượng:

  • Ban Giám đốc và Nhà quản lý bệnh viện: Nắm bắt bức tranh toàn cảnh về sức khỏe tinh thần của nhân viên, từ đó có căn cứ khoa học để điều chỉnh chính sách đãi ngộ, cải thiện định mức lao động và xây dựng môi trường làm việc an toàn, văn minh.
  • Lãnh đạo Phòng Điều dưỡng và Điều dưỡng trưởng khoa: Ứng dụng bộ công cụ ENSS để nhận diện sớm các nguy cơ gây quá tải tại từng khoa lâm sàng, tối ưu hóa quy trình phân công ca trực và triển khai các biện pháp nâng đỡ tâm lý đồng nghiệp.
  • Học viên cao học, Bác sĩ nội trú và Nghiên cứu sinh chuyên ngành Y tế công cộng, Quản lý bệnh viện: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu kết hợp định lượng - định tính, kỹ thuật sử dụng thang đo DASS-21 và ENSS trong nghiên cứu sức khỏe nghề nghiệp.
  • Các nhà hoạch định chính sách y tế và cơ quan bảo hiểm: Đánh giá tác động của điều kiện làm việc đến năng suất lao động của nhân viên y tế, làm cơ sở xây dựng các chuẩn mực quốc gia về an toàn vệ sinh lao động ngành y tế.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ stress 43,5% ở điều dưỡng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng phản ánh thực trạng gì? Con số 43,5% cho thấy gần một nửa lực lượng điều dưỡng tại bệnh viện đang chịu áp lực tâm lý đáng báo động. Tình trạng này phản ánh sự mất cân bằng nghiêm trọng giữa khối lượng công việc chăm sóc hơn 300.000 lượt bệnh nhân mỗi năm với nguồn lực nhân sự hiện có, đòi hỏi phải có can thiệp quản trị khẩn cấp.

Thang đo DASS-21 và ENSS có vai trò gì trong việc đánh giá căng thẳng nghề nghiệp? DASS-21 cung cấp 7 tiêu chí đo lường chính xác các triệu chứng cơ thể và cảm xúc của stress theo 5 mức độ từ bình thường đến rất nặng. Trong khi đó, ENSS khảo sát sâu 54 biến số thuộc 8 nhóm nguy cơ nghề nghiệp, giúp xác định chính xác nguồn gốc gây stress đặc thù của công việc điều dưỡng.

Yếu tố nào từ phía người bệnh gây căng thẳng tâm lý lớn nhất cho điều dưỡng? Nghiên cứu chỉ ra rằng việc phải thực hiện các thủ thuật gây đau đớn cho người bệnh là yếu tố hàng đầu gây stress (chiếm 40,8%), theo sau là cảm giác bất lực khi chứng kiến người bệnh tử vong hoặc không thể cứu chữa (chiếm 32,8%), tạo nên gánh nặng tâm lý kéo dài.

Làm thêm giờ tác động như thế nào đến mức độ stress của nhân viên y tế? Với 82,93% điều dưỡng phải làm thêm giờ, thời gian nghỉ ngơi bị rút ngắn làm gián đoạn quá trình phục hồi thể chất và tái tạo sức lao động. Tình trạng thiếu ngủ và làm việc quá sức kéo dài là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng các chỉ số stress ở mức độ vừa và nặng.

Làm thế nào để điều dưỡng tự giảm thiểu căng thẳng trong môi trường làm việc áp lực cao? Điều dưỡng cần chủ động rèn luyện kỹ năng quản lý thời gian, xây dựng lối sống lành mạnh, hạn chế rượu bia, tăng cường vận động thể chất và chủ động chia sẻ khó khăn với đồng nghiệp hoặc tìm kiếm sự hỗ trợ tâm lý chuyên môn khi xuất hiện các dấu hiệu kiệt sức kéo dài.

Kết luận

  • Luận văn xác định rõ ràng tỷ lệ mắc stress ở điều dưỡng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng là 43,5%, trong đó mức độ vừa và nặng chiếm 27,9%.
  • Nhận diện các nhóm nguy cơ nghề nghiệp cốt lõi gây stress gồm: thực hiện thủ thuật gây đau (40,8%), chứng kiến sự đau đớn tử vong của bệnh nhân (32,8%) và áp lực tăng ca (82,93%).
  • Đóng góp hệ thống cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác, kết hợp thành công thang đo DASS-21 và ENSS phục vụ hiệu quả cho công tác quản trị nhân lực y tế.
  • Đề xuất lộ trình can thiệp toàn diện giai đoạn 2021-2022 tập trung vào giảm tải hành chính, nâng cấp môi trường làm việc và sàng lọc sức khỏe tâm thần định kỳ.
  • Kêu gọi các cấp lãnh đạo bệnh viện và cơ quan quản lý y tế hành động ngay để bảo vệ sức khỏe nhân viên, bảo đảm an toàn người bệnh và nâng tầm chất lượng dịch vụ y tế.