ĐẶT VẤN ĐỀ Stress là một hiện tượng chủ quan không tuân theo một định nghĩa rõ ràng. Các phản ứng không đặc hiệu trước những thay đổi và các sự kiện hoặc tình huống có thể được gọi là stress khi chúng gây ra một tác động trên trạng thái cân bằng của con người. Đồng thời stress vừa là nguyên nhân, vừa là hậu quả là yếu tố có thể gây ra những nảy sinh trong cuộc sống lao động gây nên sự căng thẳng về tâm lý cũng được gọi là stress. Stress là một vấn đề được các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý quan tâm hiện nay.
Đặc biệt đối với nghề y có đối tượng trực tiếp phục vụ là con người nên nghề này tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây stress ở nhân viên y tế (1). Điều dưỡng là 1 bộ phận thiết yếu trong hệ thống chăm sóc sức khỏe. Điều dưỡng cũng là đối tượng gặp nhiều yếu tố gây stress. Trong nghiên cứu Salmond, S and Ropis, P.
Còn đối với Mehrabi T. và cộng sự năm 2010 ở Iran có tới 73, 5% điều dưỡng tại bệnh viện có stress liên quan đến đặc điểm nhân khẩu, tình trạng hôn nhân và giờ giấc làm việc (2). Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ gặp stress ở điều dưỡng là một vấn đề sức khoẻ nghề nghiệp. Nghiên cứu của Trần Thị Thu Thủy và Nguyễn Thị Liên Hương (2016), cho thấy tỷ lệ căng thẳng trong công việc điều dưỡng là 18,5%, những yếu tố liên quan tới sự căng thẳng là tham gia công tác quản lý, mối quan hệ với đồng nghiệp và mâu thuẫn với cấp trên cũng gây stress cho điều dưỡng (3).
Nghiên cứu Đậu Thị Tuyết (2013), cho thấy tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh khối lâm sàng bệnh viện bị stress, lo âu; trầm cảm; có tỷ lệ lần lượt là: 18,1%; 33,2%; 18,4% (4). Stress làm ảnh hưởng đến sức khỏe và còn làm giảm đi sự tập trung và dễ gây ra sai sót trong công việc của điều dưỡng đối với bệnh nhân. Chính vì vậy việc nghiên cứu đặc thù công việc và một số yếu tố ảnh hưởng đến stress ở điều dưỡng tại Bệnh viện đa hoa tỉnh Lâm Đồng là rất cần thiết. 2 Bệnh viện đa hoa tỉnh Lâm Đồng nằm ở vị trí trung tâm thành phố Đà Lạt.
Là bệnh viện hạng II, trực thuộc Sở Y tế Lâm Đồng. Trải qua 90 năm hình thành và phát triển với quy mô ban đầu là 100 giường bệnh đến thời điểm hiện tại quy mô đã đạt 590 giường bệnh, với 700 nhân viên y tế. Hàng ngày, bệnh viện đón tiếp hàng nghìn lượt người đến khám và chữa bệnh, số lượng người bệnh đến khám tăng qua các năm vào năm 2017 BV đón hơn 300.000 lượt người bệnh tăng 0.04% so với năm 2016 điều trị nội trú gần 43000 lượt, và ngoại trú 13000 lượt đến năm 2019 thì tăng gấp đôi so với năm 2017. Nhu cầu ngày càng tăng cao của nhân dân và nâng cao chất lượng điều trị khiến cho stress ở cán bộ y tế nói chung cũng như nhân viên điều dưỡng nói riêng có nguy cơ ngày càng tăng.
Để biết thực trạng stress và các yếu tố ảnh hưởng đến stress của điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng như thế nào. Nghiên cứu”Thực trạng và một số yếu tố ảnh hƣởng đến stress ở điều dƣỡng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng năm 2020” đã được tiến hành. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng Stress của điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng năm 2020.
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến Stress của điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng năm 2020. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về Stress 1. Khái niệm stress.
Hiện nay đã có rất nhiều tác giả trong và ngoài nước đã đưa ra khái niệm về stress, có những nghiên cứu thuần túy lý thuyết, nghiên cứu thực nghiệm và thực tiễn trên đối tượng nhất định hoặc kết hợp cả hai trên nhiều lĩnh vực y học; sinh học và tâm lý học; xã hội học. Stress là một hiện tượng chủ quan không tuân theo một định nghĩa rõ ràng. Stress sử dụng rộng rãi nhưng bắt nguồn từ năm 1936 do Hans Selye phát hiện và xác định là”Các phản ứng không đặc hiệu trước những thay đổi‟. Các sự kiện hoặc tình huống có thể được gọi là stress khi chúng gây ra một tác động trên trạng thái cân bằng của con người.
Đồng thời stress vừa là nguyên nhân, vừa là hậu quả là yếu tố có thể gây ra những nảy sinh trong cuộc sống lao động gây nên sự căng thẳng về tâm lý cũng được gọi là stress (5). Theo hệ thống về stress: Bản chất của các sự kiện kích thích và những yếu tố thuộc về cá nhân quyết định mức độ stress có hai nhóm nguyên nhân gây stress: Nguyên nhân khách quan (bên ngoài): Mức độ kích thích các tác nhân có 2 mức độ gây ra stress là kích thích quá thấp (thiếu tải) hoặc kích thích quá mạnh (quá tải), vì vậy nếu mức độ kích thích quá thấp thì con người sẽ không cảm thấy phấn khích và thích thú điều gì, hiệu quả làm việc cũng như tâm trạng sẽ không tốt và ngược lại. Môi trường sinh thái: Là do rối loạn chu kỳ thời gian sinh học; rối loạn giấc ngủ; thiên tai; thời tiết; tiếng ồn; giao thông; bụi; và sự ô nhiễm. Những căng thẳng từ xã hội và gia đình; thời hạn của công việc phải hoàn thành, các vấn đề tài chính; công việc gây áp lực; quá tải; môi trường làm việc không thuận lợi; thay đổi về thời gian làm việc; phong cách quản lý độc đoán; tập trung quá nhiều sức lực vào nhiệm vụ hay do sự mất mát của người thân, mâu thuẫn trong gia đình (ly hôn; tranh chấp; xích mích; bất hòa, quan hệ bạn bè không tốt; chia tay người yêu …).
5 Nguyên nhân chủ quan (bên trong cá nhân). Khi cá nhân cảm thấy không có quyền hoặc ít có quyền quyết định những việc của bản thân hoặc việc quan trọng thì sẽ chịu đựng một ít stress bất lợi. Bên cạnh trạng thái cảm xúc không ổn định, hay lo âu căng thẳng né tránh cũng là những nhân cách dễ bị tổn thương và cá nhân có những hành vi không thích hợp, thái quá gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến bản thân và người khác như hút thuốc, uống rượu, hành vi gây hấn…làm nguy cơ bị stress cho bản thân cao (6,7). Ngoài ra, Tác giả Cooper CL đã nêu ra 6 nguyên nhân chính gây stress (47).
Các điều kiện lao động: Quá tải lao động (lượng và chất), Hysteria dây chuyền, các quyết định của con người, làm việc theo ca, kỹ thuật. Lao động: Vai trò (chức năng) công việc không rõ ràng, rập khuôn, về giới tính, quấy nhiễu tình dục. Các yếu tố cá nhân : Điều kiện lao động, hệ nâng đỡ xã hội nghèo nàn, cạnh tranh, ghen tị, hoặc mâu thuẫn về mặt chính trị, thiếu quan tâm đến người lao động. Phát triển nghề nghiệp: Kém thúc đẩy nghề nghiệp hoặc thúc đẩy quá sức, an toàn nghề nghiệp, các tham vọng và bị hụt hẫng.
Mối liên quan giữa gia đình- xã hội và công việc. Các ảnh hưởng từ công việc tác động tới gia đình, thiếu nâng đỡ từ phía vợ/chồng, mâu thẫn hôn nhân. Phân loại Theo Nguyễn Hồng Quỹ (2007), có nhiều cách phân loại stress: Bình thường: Sự đáp ứng thích hợp và giúp cho cá thể có được những phản ứng đúng nhằm tạo ra một cân bằng mới sau khi chịu tác động từ bên ngoài. Stress bệnh lý: Khả năng đáp ứng của cá thể tỏ ra không đầy đủ hay không thích hợp, không thể tạo ra ngay một cân bằng mới, xuất hiện rối loạn chức năng thể hiện qua các dấu hiệu tâm thần cơ thể và tập tính tạm thời hay kéo dài.
Stress sinh thái: Là yếu tố gây nên có nguồn gốc sinh thái. Phát sinh từ mối quan hệ giữa môi trường bên trong và môi trường bên ngoài. 6 Stress do chấn bệnh tật: Nguyên nhân gây nên stress sinh thái, trực tiếp làm tổn hại suy giảm đến chức năng hoạt động của thực thể. Stress tiếng ồn và các tác động vật lý, sinh hóa: Nguyên nhân gây nên stress sinh thái.
Stress tâm lý – xã hội : Yếu tố tâm lý – xã hội tác động gây nên. Stress sinh lý: Học thuyết hành vi đưa ra mô hình (S-R) kích thích – phản ứng. Nhấn mạnh đến những đáp ứng thần kinh và thể dịch (8). Hậu quả Stress gây ra hậu quả khôn lường, không làm chủ được bản thân và đưa những quyết định không chính xác và dễ mắc sai lầm.
Stress cũng làm mất tập trung, giảm trí nhớ, ảnh hưởng rất nhiều đến công việc và cuộc sống đến sức khỏe. Và dễ mắc nhiều bệnh tâm lý, dần dần những cảm xúc bất thường đó có thể hình thành nên căn bệnh trầm cảm hay tự kỷ. Ngoài ra stress gây ra hậu quả đến những mối quan hệ xung quanh, sự rạn nứt đổ vỡ của tình yêu và có thể là cả gia đình. Và ảnh hưởng đến sức khỏe: Ảnh hưởng đến mắt, tim, não, da, phổi… Ảnh hưởng đến chất lượng sống.
Gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tinh thần, mất khả năng tư duy trí nhớ và làm mất khả năng phán đoán. Những ảnh hưởng của stress để lại nhiều hậu quả vô cùng nghiêm trọng và có thể ảnh hưởng đến tính mạng con người (7,9). Mức độ Nguyễn Thị Hải (2009), stress chia thành 3 mức độ: Ít trầm trọng: Stress chỉ biểu hiện một mặt, không kéo dài, chủ thể có thể tự khắc phục được. Trầm trọng: Biểu hiện hai hay một số mặt lặp đi lặp lại trong thời gian tương đối dài, phải khắc phục trong một thời gian nhất định.
Rất trầm trọng: Biểu hiện ở nhiều mặt, diễn ra trong thời gian khá dài, phải khắc phục trong thời gian rất dài (10). Tô Như Khuê (năm 60 của thế kỉ XX), Stress có 3 mức độ: 7 Bình thường: Mức độ này hoạt động diễn ra bình thường không có những tác động đến tâm sinh lý mạnh nên không ảnh hưởng nhiều cho dù có tác nhân gây căng thẳng nhẹ. Cao: Mức độ này kéo dài bởi các tác nhân gây căng thẳng đáng kể lên cơ thể phải sử dụng thêm năng lượng và cấu trúc để thích nghi với những kích thích và phản ứng thích nghi đạt tới mức giới hạn quá sức sẽ gây ra yếu tố gây căng thẳng cao. Bệnh lý: Mức độ này gây ra phản ứng lên cơ thể không còn hiệu quả như mong muốn, môi trường bên trong có nhiều rối loạn và không trở lại bình thường dẫn đến bệnh lý (11).